Soạn Bài 3: THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (Trang 59-61) – Khám phá sự phong phú của từ ngữ
Các em học sinh lớp 6 thân mến,
Trong chặng đường khám phá văn học, việc nắm vững các kiến thức về Tiếng Việt là vô cùng quan trọng. Bài học hôm nay, **THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT** (từ trang 59 đến 61) trong sách Ngữ văn lớp 6 Cánh diều tập 1, sẽ giúp các em củng cố và mở rộng hiểu biết về các hiện tượng từ vựng phong phú của Tiếng Việt như từ đa nghĩa, từ đồng âm, từ mượn và sự chuyển nghĩa của từ. Đây là những kiến thức nền tảng giúp các em sử dụng Tiếng Việt linh hoạt và hiệu quả hơn trong giao tiếp và học tập.
Bài học này sẽ tập trung vào các dạng bài tập cụ thể, giúp các em:
- **Nhận diện và phân tích ý nghĩa của từ đa nghĩa:** Hiểu đượcmột từ có thể có nhiều nghĩa khác nhau tùy vào ngữ cảnh sử dụng.
- **Phân biệt từ đồng âm và từ đa nghĩa:** Nắm rõ sự khác biệt giữa hai hiện tượng này.
- **Xác định từ mượn và nguồn gốc của chúng:** Làm quen với các từ mượn từ tiếng nước ngoài và hiểu lí do chúng xuất hiện trong Tiếng Việt.
- **Phân tích sự chuyển nghĩa của từ:** Thấy được cách các từ chỉ bộ phận cơ thể người có thể được chuyển sang nghĩa chỉ bộ phận của vật, làm tăng tính biểu cảm và phong phú cho ngôn ngữ.
- **Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và tư duy ngôn ngữ:** Áp dụng kiến thức vào việc giải quyết các bài tập thực hành.
Với sự hướng dẫn chi tiết từ Sĩ Tử, các em sẽ dễ dàng tiếp thu các kiến thức ngữ pháp phức tạp và tự tin hơn khi sử dụng Tiếng Việt. Hãy cùng Sĩ Tử đi sâu vào từng bài tập để nâng cao khả năng ngôn ngữ của mình!
Tham khảo thêm các bài soạn và lời giải khác:
- Soạn Ngữ văn 6 Cánh diều tập 1 Bài 3: Du kí Đồng Tháp Mười mùa nước nổi (Trang 55-58)
- Soạn Ngữ văn 6 Cánh diều tập 1 Bài 3: Hồi kí Những ngày thơ ấu (Trang 51-54)
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
Hướng dẫn Soạn bài chi tiết Bài 3: THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (Trang 59-61)
Dưới đây là phần trả lời chi tiết các câu hỏi trong sách giáo khoa, giúp các em củng cố kiến thức về từ ngữ trong Tiếng Việt.
1. Xác định ý nghĩa của các từ chân, chạy trong mỗi trường hợp dưới đây:
Chân:
- a) Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi và khi trèo lên xe, tôi ríu cả chân lại. (Nguyên Hồng)
- Ý nghĩa: Bộ phận dưới cùng của cơ thể người hoặc động vật, dùng để đi, đứng. (Nghĩa gốc, chỉ bộ phận cơ thể người)
- b) Dù ai nói ngả, nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. (Ca dao)- Ý nghĩa: Bộ phận đỡ, chống giữ cho vật (ví dụ: chân bàn, chân ghế, chân kiềng). (Nghĩa chuyển, chỉ bộ phận của vật)
- c) Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. (Thánh Gióng)
- Ý nghĩa: Phần thấp nhất, dưới cùng của một cái gì đó (ví dụ: chân núi, chân tường, chân cầu). (Nghĩa chuyển, chỉ vị trí, bộ phận của vật)
Chạy:
- a) Thằng Khin chạy lon ton quanh sân… (Cao Duy Sơn)
- Ý nghĩa: Di chuyển nhanh bằng chân (thường là người hoặc động vật). (Nghĩa gốc, chỉ hành động di chuyển của sinh vật)
- b) Xe chạy chậm chậm. (Nguyên Hồng)
- Ý nghĩa: Hoạt động, vận hành, di chuyển của máy móc, phương tiện. (Nghĩa chuyển, chỉ sự vận hành của máy móc)
- c) Vào Thanh Hoá đi, tao chạy cho tiền tàu. (Nguyên Hồng)
- Ý nghĩa: Lo liệu, tìm kiếm, xoay sở để có được một cái gì đó một cách nhanh chóng hoặc tạm thời. (Nghĩa chuyển, chỉ hành động lo liệu, xoay sở)
- d) Bãi cát trắng phau, chạy dài hàng mấy nghìn thước. (Mộng Tuyết)
- Ý nghĩa: Trải dài, kéo dài theo một hướng nhất định. (Nghĩa chuyển, chỉ sự kéo dài, trải rộng)
2. Tìm thêm ba từ chỉ bộ phận cơ thể người và kể ra một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của chúng (sang nghĩa chỉ bộ phận của vật).
Dưới đây là ba từ chỉ bộ phận cơ thể người và ví dụ về sự chuyển nghĩa của chúng sang nghĩa chỉ bộ phận của vật:
- Tay:
- Tay áo: Phần của chiếc áo che phủ cánh tay.
- Tay lái: Bộ phận để điều khiển hướng của xe.
- Tay ghế: Bộ phận để tì tay ở ghế.
- Tay vịn: Thanh để vịn tay khi lên xuống cầu thang.
- Đầu:
- Đầu làng: Nơi bắt đầu của làng.
- Đầu tàu: Phần phía trước của đoàn tàu.
- Đầu đường: Nơi bắt đầu hoặc kết thúc một con đường.
- Đầu sách: Phần trên cùng của cuốn sách.
- Miệng:
- Miệng chén: Vành trên của chén.
- Miệng núi lửa: Lỗ ở đỉnh núi lửa nơi dung nham phun ra.
- Miệng hố: Lỗ hổng trên mặt đất.
- Miệng túi: Phần mở ra của túi.
3. Tìm từ đa nghĩa, từ đồng âm trong những câu dưới đây:
a) Chín:
- Quýt nhà ai chín đỏ cây
Hỡi em đi học, hây hây má tròn. (Tố Hữu)- Ý nghĩa: Chỉ quả đã đến độ thu hoạch, có màu sắc và hương vị đặc trưng (quả chín).
- Một nghề cho chín còn hơn chín nghề. (Tục ngữ)
- Ý nghĩa (từ “chín” thứ nhất): Thành thạo, tinh thông, đạt đến trình độ cao (học cho chín, làm cho chín).
- Ý nghĩa (từ “chín” thứ hai): Số lượng (số 9).
Nhận xét:
- Từ “chín” trong “quýt chín” và “một nghề cho chín” là **từ đa nghĩa**. Chúng cùng là một từ nhưng mang hai nghĩa khác nhau, có mối liên hệ về nghĩa (đều chỉ sự phát triển đến mức hoàn thiện, đạt độ).
- Từ “chín” trong “một nghề cho chín” (nghĩa tinh thông) và từ “chín” trong “chín nghề” (nghĩa số 9) là **từ đồng âm**. Chúng phát âm giống nhau nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau, không có mối liên hệ về nghĩa.
b) Cắt:
- Nhanh như cắt, rùa hả miệng đớp lấy thanh gươm rồi lặn xuống nước. (Sự tích Hồ Gươm)
- Ý nghĩa: Nhanh chóng, dứt khoát, gọn ghẽ (như động tác cắt).
- Việc làm khắp chốn cùng nơi
Giục đi cắt cỏ vai tôi đã mòn. (Ca dao)- Ý nghĩa: Dùng vật sắc (dao, kéo, liềm) làm rời từng phần vật gì.
- Bài viết bị cắt một đoạn. (Dẫn theo Hoàng Phê)
- Ý nghĩa: Bỏ bớt, rút ngắn một phần.
- Chúng cắt lượt nhau suốt ngày vào cà khịa làm cho Trúi không chịu được. (Tô Hoài)
- Ý nghĩa: Thay phiên nhau, đổi lượt.
Nhận xét: Từ “cắt” trong tất cả các trường hợp trên đều là **từ đa nghĩa**. Mặc dù có nhiều ý nghĩa khác nhau (nhanh chóng, dùng vật sắc làm rời, bỏ bớt, thay phiên), nhưng chúng đều có một điểm chung về gốc nghĩa là sự phân chia, ngắt quãng, hoặc hành động dứt khoát. Tùy vào ngữ cảnh mà từ “cắt” mang nghĩa cụ thể.
4. Tìm các từ mượn trong những câu dưới đây. Đối chiếu với nguyên dạng trong tiếng Pháp, tiếng Anh để biết nguồn gốc của những từ đó.
- a) Đó là lần đầu tiên tôi thấy ô tô. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
- Từ mượn: **ô tô**
- Nguồn gốc: Tiếng Pháp (automobile)
- b) Chọn lúc cả nhà không ai để ý, tôi lén lấy 2 xu để làm tiền lộ phí. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
- Từ mượn: **xu**
- Nguồn gốc: Tiếng Pháp (sou)
- c) Lúc đó, tôi vô cùng cảm phục những chủ thợ điện với túi đồ nghề gồm kìm, tuốc nơ vít cột ngang lưng trèo lên cột điện nối dây cáp. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
- Từ mượn: **tuốc nơ vít**
- Nguồn gốc: Tiếng Pháp (tournevis)
- Từ mượn: **cáp**
- Nguồn gốc: Tiếng Anh (cable)
- d) Khi tôi đọc sách, mọi thông tin vào đầu tôi rất chậm, nhưng khi xem tivi bằng tai và mắt thì tôi cảm nhận mọi việc nhạy bén hơn nhiều. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
- Từ mượn: **tivi**
- Nguồn gốc: Tiếng Anh (TV, viết tắt của television)
- e) Tôi khẩn khoản xin cha mua cho tôi một chiếc mũ két và tự tay tôi làm một cặp kính đeo mắt của phi công bằng bìa các tông. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
- Từ mượn: **két** (trong “mũ két”)
- Nguồn gốc: Tiếng Pháp (képi)
- Từ mượn: **các tông**
- Nguồn gốc: Tiếng Pháp (carton)
5. Theo em, có thể thay thế các từ mượn trong những câu ở bài tập 4 bằng các từ gốc Việt không? Vì sao?
Theo em, việc thay thế các từ mượn này bằng các từ gốc Việt là có thể, nhưng không phải lúc nào cũng tối ưu và có thể ảnh hưởng đến sự tự nhiên, phổ biến của cách diễn đạt. Cụ thể:
- ô tô: Có thể thay bằng “xe hơi” hoặc “xe ô tô” (ô tô đã trở thành từ thông dụng, nhưng “xe hơi” là từ thuần Việt).
- xu: Có thể thay bằng “đồng” (chỉ đơn vị tiền tệ nhỏ).
- tuốc nơ vít: Có thể thay bằng “cái vặn ốc” hoặc “dụng cụ tháo vít”. Tuy nhiên, “tuốc nơ vít” đã quá quen thuộc và gọn hơn.
- cáp: Có thể thay bằng “dây lớn”, “dây cáp điện”. Nhưng “cáp” đã được sử dụng rộng rãi và không có từ thuần Việt nào ngắn gọn, khái quát hơn.
- tivi: Có thể thay bằng “máy truyền hình” hoặc “truyền hình”. Tuy nhiên, “tivi” là cách gọi phổ biến và cụ thể nhất.
- két (mũ két): Có thể thay bằng “mũ lưỡi trai”, “mũ có vành cứng” nhưng sẽ không chính xác hoàn toàn về kiểu dáng đặc trưng của mũ két.
- các tông: Có thể thay bằng “bìa cứng”, “giấy cứng”.
Lí do:
- Một số từ mượn đã được Việt hóa hoàn toàn và trở nên rất thông dụng, phổ biến trong giao tiếp hàng ngày (như ô tô, tivi, cáp). Việc thay thế đôi khi làm câu văn trở nên gượng gạo hoặc khó hiểu hơn đối với người nghe/đọc.
- Một số từ mượn có thể lấp đầy “khoảng trống” trong từ vựng tiếng Việt, tức là không có từ gốc Việt nào diễn đạt chính xác và ngắn gọn ý nghĩa đó (ví dụ “tuốc nơ vít”).
- Tuy nhiên, với một số từ, việc sử dụng từ thuần Việt vẫn hoàn toàn khả thi và có thể làm cho ngôn ngữ thêm trong sáng, giữ gìn bản sắc (ví dụ: xe hơi thay cho ô tô, bìa cứng thay cho các tông).
Quyết định thay thế hay không phụ thuộc vào ngữ cảnh, mục đích giao tiếp và phong cách của người viết/nói.
6. Đọc văn bản dưới đây và viết một đoạn văn ngắn (khoảng 4- 5 dòng) cho biết: Theo tác giả, khái niệm “ngọt” trong tiếng Việt đã được nhận thức qua năm giác quan.
Về từ “ngọt”
Ngọt biểu thị một khái niệm không sao thiếu được trong đời sống vật chất cũng như tình cảm con người. Vừa mới ra đời, ta đã cần đến vị ngọt của dòng sữa mẹ. Lớn lên, ta càng cần hiểu thêm thế nào là lời nói ngọt. […].
Đầu tiên, hãy nói đến cái nghĩa cơ bản, hoàn toàn vật chất của từ ngọt. […] Ngọt của mía, của đường phèn, mật ong hoặc của trái cây chín khác với cái ngọt của bát canh cua, của nước dùng nấu bằng thịt, xương. […].
Trong dây chuyền phát triển nghĩa của ngọt, ta khó lòng mà bỏ qua được một nhận xét: khái niệm ngọt đã được con người lần lượt nhận thức qua năm giác quan. Từ cái ngọt nếm được bằng lưỡi, ta có cái ngọt ngửi thấy được nhờ mũi, do hai giác quan này rất gần nhau: thoảng qua một mùi gì ngọt ngọt, mùi thơm ngọt của dứa; rồi cơ hồ ngọt có thể nhìn thấy bằng mắt giữa ngày xuân ngọt nắng, cái nắng vàng ngọt như mật […]; hay phối hợp cảm giác để thấy dao bén ngọt, cắt cho ngọt tay liềm, […]. Từ đây, từ ngọt đã từ bỏ khá xa cái vị đường cụ thể ban đầu, và ngọt nghe được nhờ tai như đàn ngọt hát hay, ngọt giọng đã mang một ý nghĩa khá trừu tượng, tuy rằng lời nói ngọt chẳng qua cũng là lời đường mật mà ra, và trong lối so sánh ta vẫn dùng nói ngọt như mía lùi cứ ý như là giữa hai cái ngọt này chưa bao giờ có sự chia tách về nghĩa vậy […].
Theo tác giả Đào Thản, khái niệm “ngọt” trong tiếng Việt không chỉ dừng lại ở vị giác mà còn được cảm nhận qua cả năm giác quan. Ban đầu, “ngọt” là vị nếm được bằng lưỡi (đường, sữa, mía). Sau đó, nó được mở rộng để ngửi thấy bằng mũi (mùi thơm ngọt của dứa), nhìn thấy bằng mắt (nắng vàng ngọt như mật), cảm nhận bằng xúc giác khi phối hợp các giác quan (dao bén ngọt, cắt ngọt tay liềm), và cuối cùng là nghe thấy bằng tai (đàn ngọt hát hay, ngọt giọng). Điều này cho thấy sự phong phú và trừu tượng trong cách người Việt cảm nhận và sử dụng từ “ngọt”.
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
Chúc các em học tốt và luôn tìm thấy niềm vui trong mỗi trang sách!



