Sĩ Tử 2k10 tại quê lúa đón xem Gợi ý đáp án Đề thi tham khảo môn Ngữ văn thi vào lớp 10 Thái Bình năm 2025 trong bài viết dưới đây nhé!

1. Đề thi tham khảo môn Ngữ văn thi vào lớp 10 Thái Bình năm 2025
Đây là toàn bộ đề thi môn Ngữ văn bạn đã cung cấp từ các hình ảnh:
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỈNH THÁI BÌNH
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
(Đề gồm 02 trang)
ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2025-2026
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian giao đề)
Năm thi: 2025-2026
Môn thi: Ngữ Văn
(Dành cho tất cả các thí sinh)
Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn:
QUA TRỪNG VÀNG
Tạ Duy Anh
“Có những chuyện thường ngày lại vùn vùn như cổ tích. Một lúc nào đó khi chợt nhớ lại, chính bản thân ta cũng phải ngạc nhiên về sự kì diệu của nó…”
Từ Mị hay gãi gáy mọi lần, độ này kì vào cuốn sổ hưu nên cho riêng bản thân cau. Dù ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vùn lao qua những “ga” cuối cùng. Điều này không phải không có lúc làm cậu đau đứt. Nhưng cha thì làm gì được. Câu chép miệng nuôi tiếc và nhắm mắt lại. Làm bầm nát vòi chính mình.
“Thật ra tất cả bắt đầu từ những lời cầu mong tốt lành.”
…Hôm nay Tú Minh từ trường về nhà. Lúc sắp vào cổng, cậu nhìn thấy vật gì trắng trắng trong đám lá tre khô. Cậu lại gần thì nhận ra vật trắng trắng đó là quả trứng gà.
– Ô, một quả trứng gà. Cậu thầm kêu lên. Tại sao nó bị rơi vãi ở đây nhỉ.
Tú Minh lượm quả trứng lên ngắm nghía. Chắc chị mái nào đó đã trọ đã quá nhanh khi qua đây. “Thật may là mình phát hiện ra, nếu không đêm nay nó sẽ vào bụng một con rắn nào đó cũng nên”.
Mình mân mê quả trứng và cảm thấy con dối cứ rõ dần. Mồm bỗng ộp-lết cứng được lăm. Chỉ cần một chút mỡ, một chút muối tiêu. Hoặc đơn giản hơn là thả bỗng vào nồi nước sôi và chỉ dăm bảy phút sau là có thể ngoi khoanh chàn nhẫn nhập vị béo ngậy của trứng luộc.
Nhưng Minh chợt nghĩ. “Mình ăn chi một miếng tí tẹo, sẻ chẳng còn cơ hội nào cho mình đóng ngấm quả trứng độc đáo như những kia. Chi bằng đem đổi vài chiếc hà sanh để xuống canh bạc, biết đâu chả khởi kiểu gì là ra sao”. Minh lấy giẻ bọc thật cẩn thận đút vào túi chiếc ba lô, không quên chèn trấu chung quanh. Cậu bế chiếc ba lô thật cẩn thận, lội một lối và mỗi sáng cậu đều giúp mẹ nhóm lửa.
Quả trứng trở thành người bạn im lìm của Tú Minh. Sáng nào cậu cũng thì thầm nói một điều ước gì đó. Những điều ước của cậu đều tốt đẹp. Chẳng hạn có sáng cậu ước: “(Giá như) May có thể biến thành một quả trứng vàng để tạo đem chia cho các bạn nghèo trong lớp”.
Điều ước này bám riết theo cậu hơn cả và có lúc nó làm cho cậu chán nản, thất vọng vì biết chắc đó là điều không bao giờ có thật.
Một buổi sáng, giống như mọi hôm, Tú Minh xuống bếp cời lò và vo gạo. Chợt cậu nghe thấy tiếng con rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa. Thoạt đầu cậu ngẩng đớn con chọi giật mạnh nôn đổ vợi tái quá trứng, đánh một giặc no nệ đang trườn ra. Nhưng tiếng cựa chỉ thoảng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy. Cậu hồi hộp mở nắp túi ra rồi cẩn thận gỡ từng lớp giấy. Quả trứng không hề sấy sát trừ một lỗ thủng nhỏ và chính cái lỗ thủng đó khiến tim cậu nhảy lên. Điều kì diệu đã xảy ra: quả trứng biến thành chú gà con.
Tạ Duy Anh (1959), tên khai sinh là Tạ Việt Dũng, quê ở Hà Nội. Ông là một cây bút ấn tượng trên văn đàn Việt Nam đương đại. Những trang viết của thiếu nhi của nhà văn trong sáng, đậm chất thơ và giàu ý nghĩa nhân văn. Các tác phẩm tiêu biểu: Về người trở về, Hiệp sĩ áo đen, Bước trinh ra em gái tôi… Quả trứng vàng là tác phẩm đạt giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng.
Trang 1/2
Quãng trưa thì chú gà vàng đã hiện hình ngay trước mặt cậu, có thể vuốt ve được. Tú Minh cảm động muốn khóc khi chú gà nép mình trong bàn tay che chở của cậu. Ngày ngày cậu kiềm mồi cho và chú gà mày chốc nó đã có thể léo đéo theo cậu đi bắt châu chấu.
Qua thu sang đông rồi hết xuân sang hè, chú gà nhép đã lớn vổng lên thành một con gà nòi ông ấp. Vùng cườm cổ nó mới sáng làm sao. Lông mào ngày nọ tha thắm kiềm mồi quanh khu vườn và thỉnh thoảng ngơ ngẩn nhìn lên những tiếng gọi rát lạ.
Và điều kì diệu nữa đã xảy ra: con gà mái của Tú Minh đã đẻ quả trứng đầu tiên. Tú Minh hả hê ngắm nghĩa và không ngớt nghĩ đến những điều tốt đẹp. Sau khi đẻ nối quả trứng thứ mười hai, con mái nầu đập. Tú Minh lót cho nó một chiếc ổ đẹp tuyệt trần, có lưới bảo vệ rất cẩn thận. Tự đáy trở đi mọi việc xem ra suôn sẻ hơn. Đến khi đến hạn, cả mười hai chú gà con đều sinh nở an toàn. Lần này Tú Minh chỉ có một việc là dựng cho mẹ con mái nầu một nếp nhà xinh xắn và chắc chắn.
Nhiều lúc đứng xem đàn gà chạy nhảy, Tú Minh lại hơi giật mình nhớ đến đoạn cậu nhìn thấy quả trứng lăn trong đám tre. Chì cần cậu thả vào nồi nước, đun lên là một phép lạ chấm dứt luôn. Chẳng bao giờ cậu có cái cảm giác rùng rợn người khi nhìn thấy lũ gà, hiện thân của những điều ước. Sẽ chẳng có cái kết thúc mà dù cậu cam đoan không hề bịa máy may, lí bạn cậu vẫn ngơ ngác nhìn nhau: “Chẳng lẽ thằng Minh đã thành nhà văn”. Bồi hồi một câu chuyện như thế chỉ có thể được sáng tạo bởi chính cuộc sống.
Với một vẻ xem mình có bịa tị nào không nhỉ? Bắt đầu từ quả trứng và những điều ước… Rồi sau đó cuộc sống đã kế tiếp câu chuyện bằng sự kì diệu đó chính nó tạo nên, chẳng ai bịa được hay đến vậy.
Cậu hoàn toàn an tâm với những dòng nhật kí.
(Theo Báo Nhân Dân, Số ra thứ Tư, ngày 30 tháng 9 năm 2009)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Trong văn bản, điều nào hàm riết theo nhân vật Tú Minh?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Chợt cậu nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa.
Câu 4. (1,0 điểm) Tại sao nhân vật Tú Minh cảm động muốn khóc khi chú gà nép mình trong bàn tay che chở của cậu?
Câu 5. (1,0 điểm) Thông điệp sâu sắc nhất em nhận được từ văn bản trên là gì? Vì sao?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tú Minh trong truyện Quả trứng vàng của tác giả Tạ Duy Anh ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Hiện nay, một số học sinh chưa hiểu hết tấm lòng cha mẹ dành cho mình.
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) đề xuất những giải pháp phù hợp để khắc phục tình trạng trên.
HẾT
SỐ BÁO DANH: ……………………..
Họ và tên thí sinh: ……………………………………………………..
(Thí sinh không được sử dụng tài liệu; cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Trang 2/2
2. Gợi ý đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.
Gợi ý đáp án: Ngôi kể thứ ba (người kể chuyện giấu mình, gọi tên nhân vật bằng “cậu”, “Minh” hoặc tên riêng “Tú Minh”, “Tạ Duy Anh”, “Tú Minh”.)
Câu 2. (0,5 điểm) Trong văn bản, điều nào hàm riết theo nhân vật Tú Minh?
Gợi ý đáp án: Điều ước “Giá như May có thể biến thành một quả trứng vàng để tạo đem chia cho các bạn nghèo trong lớp” (hoặc ý tương tự: điều ước có thể biến quả trứng thành vàng để chia sẻ cho các bạn nghèo) bám riết theo nhân vật Tú Minh.
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Chợt cậu nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa.
Gợi ý đáp án:
Biện pháp tu từ: So sánh.
Hình ảnh so sánh: Tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt (A) được so sánh với tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa (B).
Tác dụng:
Gợi hình, gợi cảm: Giúp người đọc hình dung rõ hơn về âm thanh rất nhỏ, rất khẽ, nhưng đầy sức sống của chú gà con đang cựa mình trong trứng.
Nhấn mạnh sự yếu ớt, mong manh nhưng cũng đầy nghị lực, sự sống mãnh liệt đang trỗi dậy.
Tạo cảm giác hồi hộp, chờ đợi và sự kì diệu của sự sống.
Khơi gợi cảm xúc yêu thương, nâng niu, trân trọng sự sống của Tú Minh và người đọc.
Câu 4. (1,0 điểm) Tại sao nhân vật Tú Minh cảm động muốn khóc khi chú gà nép mình trong bàn tay che chở của cậu?
Gợi ý đáp án: Nhân vật Tú Minh cảm động muốn khóc vì:
Sự kì diệu của sự sống: Từ một quả trứng vô tri, chú gà con bé bỏng đã ra đời, đó là một phép màu, một điều kì diệu mà cậu đã ấp ủ, chăm sóc.
Sự gắn bó, tình cảm: Quả trứng và sau này là chú gà con đã trở thành “người bạn im lìm”, là đối tượng của những điều ước tốt đẹp của Tú Minh. Tình cảm của cậu dành cho chú gà là sự nâng niu, yêu thương, trân trọng.
Thành quả của lòng tốt và ước mơ: Việc chú gà nở ra là hiện thực hóa những điều ước tốt đẹp, là minh chứng cho lòng nhân ái, sự kiên trì và niềm tin vào điều kì diệu của cậu bé.
Cảm nhận về sự tin cậy: Chú gà nép mình trong bàn tay Tú Minh cho thấy sự tin tưởng, gần gũi, khiến Tú Minh cảm nhận được sự ấm áp, trách nhiệm và niềm hạnh phúc khi được che chở một sinh linh bé nhỏ.
Câu 5. (1,0 điểm) Thông điệp sâu sắc nhất em nhận được từ văn bản trên là gì? Vì sao?
Gợi ý đáp án:
Thông điệp sâu sắc nhất: Câu chuyện nhắn nhủ rằng những điều tốt đẹp, những phép màu trong cuộc sống thường bắt nguồn từ những ước muốn chân thành, lòng nhân ái, sự kiên trì và niềm tin vào điều kì diệu của chính con người. Cuộc sống sẽ tự tạo ra những điều “kì diệu” khi con người biết nuôi dưỡng những điều thiện lương.
Giải thích (Vì sao):
Từ những điều ước tốt đẹp: Tú Minh nhặt quả trứng, không ăn mà ấp ủ, nuôi dưỡng nó với những điều ước tốt đẹp, đặc biệt là ước muốn chia sẻ cho bạn bè nghèo. Chính những điều ước ấy đã tạo nên tiền đề cho phép màu xảy ra.
Sự kiên trì và lòng tốt: Cậu bé đã chăm sóc, che chở quả trứng, và sau đó là chú gà con một cách tận tình, kiên trì. Lòng tốt và hành động nhân ái của cậu đã được đền đáp.
Phép màu từ cuộc sống: Câu chuyện khẳng định rằng “chỉ có thể được sáng tạo bởi chính cuộc sống”, “cuộc sống đã kế tiếp câu chuyện bằng sự kì diệu đó chính nó tạo nên”. Điều này cho thấy, phép màu không phải là thứ xa vời mà nó tiềm ẩn trong những hành động tử tế, trong những ước mơ chân thành và sự chăm sóc của con người dành cho cuộc sống xung quanh.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tú Minh trong truyện Quả trứng vàng của tác giả Tạ Duy Anh ở phần Đọc hiểu.
Gợi ý hướng dẫn:
Mở đoạn: Giới thiệu khái quát về nhân vật Tú Minh và ấn tượng ban đầu về cậu bé.
Thân đoạn: Phân tích các phẩm chất của Tú Minh qua hành động, suy nghĩ:
Lòng nhân ái, biết yêu thương: Phát hiện quả trứng và không ăn mà quyết định giữ lại, chăm sóc. Ước muốn cao cả “biến thành quả trứng vàng để chia cho các bạn nghèo”.
Giàu trí tưởng tượng, tâm hồn trong sáng: Coi quả trứng như người bạn, thì thầm điều ước mỗi sáng.
Biết trân trọng sự sống: Nâng niu, chăm sóc chú gà con từ khi mới nở, rồi cả đàn gà sau này.
Có niềm tin vào điều kì diệu: Mặc dù ban đầu có lúc chán nản vì “biết chắc đó là điều không bao giờ có thật”, nhưng vẫn giữ niềm tin và sự kiên trì, cuối cùng điều kì diệu đã xảy ra.
Sự trưởng thành: Từ một cậu bé ban đầu còn có ý định bán trứng, Tú Minh đã lớn lên cùng những điều ước và hành động nhân ái, trở thành người biết sẻ chia và trân trọng giá trị cuộc sống.
Kết đoạn: Khẳng định lại ý nghĩa của nhân vật Tú Minh, thể hiện thông điệp mà tác giả gửi gắm qua nhân vật.
Câu 2. (4,0 điểm) Hiện nay, một số học sinh chưa hiểu hết tấm lòng cha mẹ dành cho mình. Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) đề xuất những giải pháp phù hợp để khắc phục tình trạng trên.
Gợi ý hướng dẫn:
Mở bài:
Dẫn dắt vào vấn đề: Tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ dành cho con cái là điều hiển nhiên, nhưng đôi khi, vì nhiều lý do, một bộ phận học sinh chưa nhận thức đầy đủ hoặc chưa thể hiện sự trân trọng tấm lòng đó.
Nêu rõ vấn đề: Đề xuất giải pháp để học sinh hiểu và trân trọng tấm lòng cha mẹ hơn.
Thân bài:
Thực trạng và biểu hiện:
Học sinh vô tâm, ít quan tâm đến cha mẹ, chỉ tập trung vào bản thân hoặc bạn bè.
Có thái độ thờ ơ, cãi lại, thậm chí coi thường công sức của cha mẹ.
Chỉ biết đòi hỏi, hưởng thụ mà không biết sẻ chia, gánh vác.
Nguyên nhân: áp lực học tập, ảnh hưởng của mạng xã hội/xã hội, thiếu sự giáo dục/quan tâm đúng mức từ gia đình và nhà trường, bản thân học sinh chưa đủ trưởng thành để nhận thức.
Hậu quả:
Gây tổn thương sâu sắc cho cha mẹ.
Tạo ra khoảng cách thế hệ trong gia đình.
Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh (thiếu lòng biết ơn, sự đồng cảm).
Xã hội mất đi những giá trị đạo đức truyền thống.
Các giải pháp: (Tập trung vào 3 đối tượng chính: Gia đình, Nhà trường, Bản thân học sinh)
Từ phía gia đình:
Cha mẹ cần làm gương: Thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm, lòng biết ơn trong gia đình.
Tạo môi trường giao tiếp cởi mở: Lắng nghe con cái, chia sẻ những khó khăn, tâm tư của cha mẹ.
Phân công việc nhà: Giúp con cái hiểu được sự vất vả của cha mẹ, rèn luyện tính tự lập, trách nhiệm.
Dành thời gian chất lượng cho con: Không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần (cùng ăn cơm, trò chuyện, đi chơi…).
Từ phía nhà trường:
Đưa nội dung giáo dục đạo đức vào chương trình học: Lồng ghép qua các môn Ngữ văn, Giáo dục công dân, các hoạt động ngoại khóa.
Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề: Về tình cảm gia đình, lòng biết ơn.
Tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm thực tế: Ví dụ: thăm viện dưỡng lão, làm việc thiện nguyện…
Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh: Trao đổi về tình hình học sinh, cùng tìm giải pháp.
Từ phía bản thân học sinh:
Chủ động quan sát, lắng nghe: Để thấu hiểu những hy sinh, vất vả của cha mẹ.
Đặt mình vào vị trí của cha mẹ: Tập đồng cảm, suy nghĩ chín chắn hơn.
Thể hiện lòng biết ơn bằng hành động cụ thể: Lời nói yêu thương, giúp đỡ việc nhà, học tập chăm chỉ, sống có trách nhiệm.
Tìm kiếm sự tư vấn: Khi gặp khó khăn trong việc thấu hiểu hoặc thể hiện tình cảm.
Kết bài:
Khẳng định lại tầm quan trọng của việc học sinh hiểu và trân trọng tấm lòng cha mẹ.
Kêu gọi hành động, xây dựng gia đình hạnh phúc, vun đắp giá trị đạo đức.
3. Lời khuyên cho sĩ tử 2k11 năm 2025
Nhận bộ đề thi thử vào 10 Toàn quốc sát cấu trúc – chỉ 39K
Bạn có thể chọn một trong hai gói:
- Bộ 3 môn Toán – Văn – Anh
- 3 đề thi thử (đầy đủ đề, đáp án, lời giải)
Sau khi chuyển khoản, bạn sẽ nhận link tải đề trong vòng 1–3 phút.
Môn Ngữ văn trong kỳ thi vào 10 đòi hỏi sự tích lũy kiến thức, kỹ năng cảm thụ, phân tích và tư duy nghị luận. Để đạt kết quả tốt, các bạn 2K11 cần có lộ trình ôn luyện khoa học và hiệu quả.
I. Giai đoạn Tích lũy và Hệ thống hóa (Từ hè lớp 8 lên 9 đến hết Học kỳ I lớp 9):
Nắm chắc kiến thức cơ bản SGK:
Tác phẩm: Đây là phần nền tảng quan trọng nhất. Ôn kỹ các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 9, đặc biệt là các tác phẩm trọng tâm (thơ hiện đại, truyện hiện đại). Đọc lại tác phẩm trong sách giáo khoa, ghi nhớ hoàn cảnh sáng tác, tác giả, thể loại, bố cục, các chi tiết, hình ảnh, nhân vật tiêu biểu.
Kiến thức văn học sử: Ghi nhớ thông tin cơ bản về tác giả (tiểu sử nổi bật, phong cách sáng tác), giai đoạn văn học.
Tiếng Việt: Ôn lại các kiến thức về từ loại, cụm từ, câu (câu ghép, câu đặc biệt, câu rút gọn), các phép liên kết câu, dấu câu, các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, điệp ngữ, nói giảm nói tránh, liệt kê, chơi chữ…).
Tập làm văn: Nắm vững cấu trúc, yêu cầu của các kiểu bài: nghị luận xã hội (về một tư tưởng đạo lí, về một hiện tượng đời sống), nghị luận văn học (phân tích, cảm nhận đoạn thơ/bài thơ, nhân vật, chi tiết nghệ thuật, giá trị nội dung/nghệ thuật của tác phẩm).
Lập sổ tay Ngữ văn:
Mỗi tác phẩm một trang hoặc một phần riêng: Tóm tắt nội dung, ghi chú nghệ thuật đặc sắc, những câu văn, câu thơ, từ ngữ đắt giá, thông điệp.
Phần Tiếng Việt: Ghi chép các định nghĩa, công thức, ví dụ về các biện pháp tu từ, các kiểu câu, các lỗi thường gặp.
Phần Tập làm văn: Ghi dàn ý chung cho từng dạng bài (nghị luận xã hội, nghị luận văn học), các dẫn chứng hay, câu nói tâm đắc.
II. Giai đoạn Luyện kỹ năng và Đột phá (Từ Học kỳ II lớp 9 đến sát thi):
Luyện đề Đọc hiểu:
Thường xuyên làm bài đọc hiểu: Luyện các dạng câu hỏi: xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, ngôi kể, phép liên kết, biện pháp tu từ, nội dung chính, ý nghĩa của chi tiết/câu văn, rút ra thông điệp…
Đọc nhanh và nắm ý: Đọc lướt để nắm ý chính, đọc kỹ để tìm chi tiết.
Trả lời đúng trọng tâm: Tránh lan man, chỉ trả lời vào yêu cầu của câu hỏi.
Chú ý phân loại điểm: Phần trả lời ngắn gọn, nhận biết thường 0.5 điểm; phần phân tích, nêu tác dụng, thông điệp thường 1.0 điểm.
Rèn kỹ năng Viết đoạn văn (200 chữ):
Yêu cầu: Thường là phân tích một chi tiết, hình ảnh, nhân vật trong văn bản đọc hiểu, hoặc trình bày một suy nghĩ về vấn đề xã hội liên quan.
Cấu trúc: Mở đoạn (giới thiệu), Thân đoạn (phân tích, lý giải, chứng minh), Kết đoạn (khẳng định/tổng kết).
Luyện tập thường xuyên: Viết nhiều, sau đó tự đọc lại hoặc nhờ thầy cô/bạn bè góp ý để chỉnh sửa câu từ, lập luận, diễn đạt. Đảm bảo dung lượng khoảng 200 chữ.
Luyện viết bài văn nghị luận (600 chữ):
Dàn ý chi tiết: Luôn lập dàn ý trước khi viết, đảm bảo đủ 3 phần Mở – Thân – Kết, các luận điểm rõ ràng, có luận cứ (dẫn chứng) và lập luận chặt chẽ.
Nghị luận xã hội:
Tìm hiểu các vấn đề thời sự, đạo đức, lối sống, giáo dục, môi trường… đang được quan tâm.
Tích lũy dẫn chứng: Những tấm gương, câu chuyện, sự kiện nổi bật trong xã hội, các danh ngôn, câu nói hay.
Rèn kỹ năng phân tích, bình luận, đưa ra giải pháp (nếu đề yêu cầu).
Nghị luận văn học:
Học thuộc lòng những đoạn thơ, câu văn đặc sắc.
Nắm vững kiến thức chuyên sâu về tác phẩm (phân tích nhân vật, diễn biến tâm trạng, các lớp nghĩa của chi tiết, giá trị nghệ thuật đặc sắc…).
Rèn luyện kỹ năng cảm thụ, biến kiến thức thành lời văn của mình, tránh sao chép văn mẫu một cách máy móc.
Luyện viết các dạng bài từ phân tích chi tiết nhỏ đến tổng quát cả tác phẩm.
Tham khảo Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ Văn toàn quốc và văn mẫu (có chọn lọc):
Đề thi các năm: Giúp làm quen cấu trúc, độ khó của đề thi.
Văn mẫu: Tham khảo để học cách triển khai ý, lập luận, dùng từ, đặt câu, nhưng TUYỆT ĐỐI không học thuộc lòng và sao chép. Hãy biến nó thành kiến thức và phong cách của riêng mình.
III. Những lưu ý quan trọng khác:
Đọc nhiều sách báo, tài liệu: Không chỉ là SGK, việc đọc thêm các bài viết, sách văn học, sách về các vấn đề xã hội sẽ giúp bạn mở rộng vốn từ, cách diễn đạt và có thêm dẫn chứng.
Viết nhật ký, ghi chép suy nghĩ: Giúp rèn luyện khả năng diễn đạt cảm xúc, ý tưởng bằng ngôn ngữ.
Tập viết nhanh, chữ rõ ràng: Trình bày sạch đẹp, khoa học cũng là một yếu tố cộng điểm.
Học theo nhóm (nếu có thể): Cùng bạn bè trao đổi, góp ý về bài viết, cách cảm thụ.
Nhờ thầy cô chữa bài: Đây là cách hiệu quả nhất để nhận ra lỗi sai và tiến bộ.
Hãy bắt đầu ngay từ bây giờ, sự kiên trì và phương pháp đúng đắn sẽ giúp bạn chinh phục môn Ngữ văn một cách xuất sắc!

