Soạn Bài 4: Văn bản nghị luận: Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ (Trang 73-75) – Trái tim lớn của một ngòi bút nhân ái
Các em học sinh lớp 6 thân mến,
Sau những khám phá về thể loại hồi kí và du kí đầy thú vị, chúng ta sẽ bước sang một thể loại văn học mới mẻ và không kém phần hấp dẫn: **văn bản nghị luận**. Bài 4 của sách Ngữ văn lớp 6 Cánh diều tập 1 sẽ giới thiệu cho các em văn bản **”Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ”** (từ trang 73 đến 75) của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh.
Đây là một văn bản đặc biệt, không chỉ giúp các em làm quen với cách viết văn nghị luận mà còn mở ra cánh cửa để các em hiểu sâu hơn về một nhà văn lớn của Việt Nam – Nguyên Hồng. Chắc hẳn các em vẫn còn nhớ đoạn trích “Trong lòng mẹ” đầy xúc động ở Bài 3 phải không? Văn bản này sẽ giúp các em lí giải vì sao Nguyên Hồng lại có thể viết nên những trang văn chân thật và thấm đẫm tình yêu thương đến vậy, đặc biệt là tình yêu dành cho những con người bé nhỏ, bất hạnh trong xã hội cũ.
Qua bài học này, các em sẽ:
- **Hiểu về đặc điểm của văn bản nghị luận:** Nhận biết được mục đích, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận.
- **Nắm bắt chân dung Nguyên Hồng:** Khám phá cuộc đời, tính cách và những yếu tố đã định hình nên ngòi bút của ông.
- **Lí giải vì sao Nguyên Hồng là “nhà văn của những người cùng khổ”:** Tìm hiểu mối liên hệ giữa cuộc đời ông và sự đồng cảm sâu sắc với những số phận bất hạnh.
- **Phát triển kỹ năng đọc hiểu và phân tích văn bản:** Rèn luyện khả năng tìm ý chính, bằng chứng và rút ra bài học từ văn bản nghị luận.
Với sự hướng dẫn của Sĩ Tử, việc tiếp cận văn bản nghị luận về một nhà văn vĩ đại như Nguyên Hồng sẽ trở nên dễ hiểu và đầy cảm hứng. Hãy cùng Sĩ Tử đi tìm hiểu những “chất Nguyên Hồng” đặc biệt nhé!
Để chuẩn bị tốt nhất cho các bài học sắp tới, các em có thể tham khảo thêm các bài soạn và lời giải khác:
- Tổng hợp soạn Ngữ văn lớp 6 Cánh diều tập 1
- Tổng hợp lời giải bộ sách lớp 6 Cánh diều
- Tổng hợp kiến thức, bài giải các môn lớp 6
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
Đọc văn bản: Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ (trích)
Hãy đọc kỹ văn bản dưới đây để nắm bắt các lí lẽ, bằng chứng mà tác giả Nguyễn Đăng Mạnh đã sử dụng để làm rõ chân dung nhà văn Nguyên Hồng.
① Ai từng tiếp xúc với Nguyên Hồng đều thấy rõ điều này: ông rất dễ xúc động, rất dễ khóc. Khóc khi nhớ đến bạn bè, đồng chí từng chia bùi sẻ ngọt; khóc khi nghĩ đến đời sống khổ cực của nhân dàn mình ngày trước; khóc khi nói đến công on của Tổ quốc, quê hưong đã sinh ra mình, đến công on của Đảng, của Bác Hồ đã đem đến cho mình lí tưởng cao đẹp của thời đại. Khóc cả khi kể lại những khổ đau, oan trái của những nhân vật là những đứa con tỉnh thần do chính mình “hư cấu”(1) nên. [..] Ai biết được trong cuộc đời mình, Nguyên Hồng đã khóc bao nhiêu lần! Có thể nói mỗi dòng chữ ông viết ra là một dòng nước mắt nóng bỏng tình xót thương ép thẳng ra từ trái tim vô cùng nhạy cảm của mình.
2 Có thể xem đây là một trong nhiều lí do đã bồi đắp nên tính nhạy cảm nói trên của Nguyên Hồng: Con người ấy thiểu tình thương từ nhỏ nên luôn luôn khao khát tình thương và dễ thông cảm với những người bất hạnh. Ông mổ côi cha từ năm 12 tuổi. Mẹ lại đi bước nữa và thường phải đi làm ăn xa. Đó là một người đàn bà dịu hiền và có nhan sắc nhưng phải gắn bó với một người chồng già nghiện ngập bằng một cuộc hôn nhân ép uổng. Bà thương con vô cùng, nhưng do cảnh ngộ éo le nói trên, nên một thời gian dài sau khi chồng mất, bà không được gần con. Sau này, Nguyên Hồng viết truyện Mợ Du là đề nói lên được phần nào tâm trạng đau đón của người mẹ trẻ bị gia đình nhà chồng khinh ghét, xua đuổi, không cho phép tự do gần gũi con mình. Còn thân phận chú bé mổ côi phải sống nhờ vào một bà cô cay nghiệt nào đó thì nhà văn đã thuật lại trong tập hổi kí Những ngày thơ ẩu:
“Ngày 20-11-1931. Giá ai cho tôi một xu nhi? Chỉ một xu thôi! Để tôi mua xôi hay bánh khúc. Giời rét thế này, đi học một mình, vừa đi vừa cắn ngon xiết bao! Không! Không có ai cho tôi cả. Vì người ta có phải mẹ tôi đâu!”. […]
3 Cảnh ngộ ấy đã ném Nguyên Hồng vào môi trường những người cùng khổ nhất trong xã hội cũ. Ngay từ tuổi cắp sách đến trường, ông đã phải lăn lộn với đời sống dân nghèo để tự kiếm sống bằng những “nghề nhỏ mọn” noi vườn hoa, cổng chợ, bến tàu, bến ô tô, bãi đá bóng…. chung đụng với mọi hạng trẻ “hư hỏng” của các lớp “cặn bã’, tụi trẻ […] bán báo, bán xôi chè, bảnh kẹo, hoa quả, bán các đồ chơi lặt vặt, đi ở bế con hay nhặt bóng quần 3), hoặc ăn mày, ăn cắp từ con cá, lá rau.Năm 16 tuổi, khi phải rời bỏ quê hương đến thành phố Hải Phòng thì ông càng nhập hẳn vào cuộc sống của hạng người đưới đáy của xã hội thành thị. Hoàn cảnh ấy đã tạo nên ở Nguyên Hồng một cái gì đó có thể gọi là “chất dân nghèo, chất lao động”. Điều này không thể có ở những cây bút khác. Nó thể hiện ngay ở cái về ngoài của nhà văn khiến người ta thoạt tiếp xúc, không thể phân biệt ông với những người dân phu lam lũ hay những bác thợ cày nước da sạm màu nắng gió.
Chất dân nghèo, chất lao động thể hiện rất rõ trong cung cách sinh hoạt vô cùng giản dị của ông: từ thói quen ăn mặc, đi đứng, nói năng, thái độ giao tiếp, ứng xử với mọi người đến cả những thích thú riêng trong ăn uống,… Bà Nguyên Hồng nói rằng, nhìn “ông ấy” cầm chén rượu khề khà nhấm nháp một mình, thấy không khác gì những bác phu xe ngày xưa ngồi uống rượu nơi hè phố sau những giờ lao động nặng nhọc. Chất dân nghèo, chất lao động đã thấm sâu vào văn chương, vào thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng. Ông thật sự là nhà văn của nhân dân lao động. […]
(Tuyền tập Nguyễn Đăng Mạnh, tập 1, NXB Giáo dục, 2005)
Bên lề văn bản:
- Phần 2 tập trung phân tích nội dung nào? Chú ý lí lẽ và bằng chứng trong phần 2 này.
- Các câu trong hồi kí của Nguyên Hồng là bằng chứng cho ý kiến nào?
- Đoạn này làm rõ thêm điều gì ở nhà văn Nguyên Hồng?
- Điều gì làm nên sự khác biệt ở tác phẩm của Nguyên Hồng ?
- Câu nói của bà Nguyên Hồng làm sáng tỏ cho điều gì?
—
Trả lời câu hỏi (Trang 75)
1. Văn bản viết về vấn đề gì? Nội dung của bài viết có liên quan như thế nào với nhan đề Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ? Nếu được đặt nhan đề khác cho văn bản, em sẽ đặt là gì?
Văn bản **”Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ”** viết về chân dung nhà văn Nguyên Hồng, tập trung vào những yếu tố đã làm nên một tâm hồn nhạy cảm, dễ xúc động và một ngòi bút luôn hướng về những số phận bất hạnh, dưới đáy xã hội. Cụ thể, văn bản làm rõ các khía cạnh:
- Sự dễ xúc động, dễ khóc của Nguyên Hồng, thể hiện trái tim nhân ái, giàu lòng xót thương.
- Hoàn cảnh tuổi thơ mồ côi, thiếu thốn tình thương đã bồi đắp nên sự đồng cảm sâu sắc với những người bất hạnh.
- Cuộc sống lăn lộn, gần gũi với dân nghèo từ nhỏ đã hình thành ở ông “chất dân nghèo, chất lao động” thấm sâu vào cả con người và văn chương.
Nội dung của bài viết có mối liên hệ mật thiết, làm sáng tỏ cho nhan đề **”Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ”** bởi vì:
- Nhan đề là một nhận định, một khẳng định về Nguyên Hồng.
- Bài viết chính là phần **giải thích, chứng minh** cho nhận định đó. Tác giả đã đưa ra các lí lẽ (Nguyên Hồng nhạy cảm, thiếu thốn tình thương từ nhỏ, lăn lộn với dân nghèo) và bằng chứng cụ thể (những giọt nước mắt, đoạn hồi kí “Ngày 20-11-1931”, cuộc sống mưu sinh, ngoại hình, cung cách sinh hoạt giản dị, câu nói của bà Nguyên Hồng) để làm rõ Nguyên Hồng không chỉ là nhà văn viết về người cùng khổ mà còn là người sống cùng, cảm nhận cùng những nỗi khổ đó. Chính những trải nghiệm và tố chất đặc biệt ấy đã khiến ông trở thành tiếng nói chân thực nhất cho những người lao động bất hạnh.
Nếu được đặt nhan đề khác cho văn bản, em có thể đặt là:
- **”Nguyên Hồng: Trái tim nhân ái và ngòi bút dân dã”**: Nhan đề này nhấn mạnh cả khía cạnh cảm xúc (trái tim nhân ái) và phong cách sống, viết văn (ngòi bút dân dã, gần gũi với dân nghèo).
- **”Nguyên Hồng: Từ tuổi thơ bất hạnh đến nhà văn của tình thương”**: Nhan đề này đi sâu vào hành trình phát triển của nhà văn, từ hoàn cảnh cá nhân đến vai trò trong văn học.
- **”Chất Nguyên Hồng: Nước mắt và đời sống”**: Đề xuất này tập trung vào hai yếu tố nổi bật nhất trong văn bản: sự xúc động (nước mắt) và sự gắn bó với cuộc sống của những người lao động (đời sống).
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
2. Để thuyết phục người đọc rằng: Nguyên Hồng “rất dễ xúc động, rất dễ khóc”, tác giả đã nêu lên những bằng chứng nào (ví dụ: “khóc khi nhớ đến bạn bè, đồng chí từng chia bùi sẻ ngọt”;…)?
Để thuyết phục người đọc rằng Nguyên Hồng “rất dễ xúc động, rất dễ khóc”, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh đã nêu lên hàng loạt bằng chứng cụ thể và đầy sức gợi, không chỉ là những biểu hiện bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất tâm hồn ông:
- **Khóc vì những mối quan hệ thân thiết:** “khóc khi nhớ đến bạn bè, đồng chí từng chia bùi sẻ ngọt”. Điều này cho thấy tình cảm sâu sắc, chân thành của ông dành cho những người đã gắn bó.
- **Khóc vì số phận con người:** “khóc khi nghĩ đến đời sống khổ cực của nhân dân mình ngày trước”. Đây là bằng chứng rõ nhất cho lòng trắc ẩn, sự đồng cảm sâu sắc của ông với những tầng lớp dưới đáy xã hội mà ông coi là “người cùng khổ”.
- **Khóc vì tình yêu Tổ quốc và lí tưởng:** “khóc khi nói đến công ơn của Tổ quốc, quê hương đã sinh ra mình, đến công ơn của Đảng, của Bác Hồ đã đem đến cho mình lí tưởng cao đẹp của thời đại”. Điều này cho thấy sự xúc động không chỉ đến từ tình cảm cá nhân mà còn từ lòng yêu nước, niềm tin vào lí tưởng cách mạng.
- **Khóc vì chính những nhân vật hư cấu của mình:** “Khóc cả khi kể lại những khổ đau, oan trái của những nhân vật là những đứa con tinh thần do chính mình “hư cấu” nên.” Đây là bằng chứng đặc biệt ấn tượng, cho thấy sự hóa thân tuyệt đối của nhà văn vào nhân vật, vào số phận mà mình kiến tạo. Nước mắt ông rơi cho chính “những đứa con tinh thần” của mình, chứng tỏ sự đồng cảm ấy đã trở thành một phần máu thịt của ông, vượt lên cả ranh giới giữa hiện thực và hư cấu.
- **Hình ảnh so sánh mạnh mẽ, khái quát:** “Có thể nói mỗi dòng chữ ông viết ra là một dòng nước mắt nóng bỏng tình xót thương ép thẳng ra từ trái tim vô cùng nhạy cảm của mình.” Đây không chỉ là một bằng chứng mà là sự khái quát hóa đầy hình ảnh, khẳng định nước mắt và tình xót thương đã hòa quyện, thấm đẫm vào từng câu chữ của Nguyên Hồng, tạo nên một phong cách văn chương đầy cảm xúc và sức nặng.
3. Ý chính của phần 1 trong văn bản là: Nguyên Hồng “rất dễ xúc động, rất dễ khóc”. Theo em, ý chính của phần 2 và phần 3 là gì?
Dựa vào cấu trúc và nội dung của văn bản nghị luận, ta có thể xác định ý chính của các phần như sau:
- **Phần 1: Ý chính là Nguyên Hồng “rất dễ xúc động, rất dễ khóc”.** Phần này dùng các bằng chứng về những tình huống ông khóc để chứng minh sự nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn của nhà văn.
- **Phần 2: Ý chính là Hoàn cảnh tuổi thơ bất hạnh đã bồi đắp nên sự nhạy cảm và lòng thông cảm sâu sắc của Nguyên Hồng với những người cùng khổ.**
- **Lí lẽ:** Con người ấy thiếu tình thương từ nhỏ nên luôn khao khát tình thương và dễ thông cảm với những người bất hạnh.
- **Bằng chứng:** Ông mồ côi cha từ năm 12 tuổi, mẹ đi bước nữa và không được gần con; việc ông viết truyện “Mợ Du” để nói lên tâm trạng người mẹ trẻ bị khinh ghét, và trích đoạn hồi kí “Những ngày thơ ấu” kể về thân phận chú bé mồ côi (chính là ông) sống nhờ bà cô cay nghiệt.
Phần này tập trung lí giải nguyên nhân sâu xa của tính nhạy cảm đã nêu ở phần 1, đó chính là từ những mất mát, thiếu thốn tình cảm trong chính tuổi thơ của Nguyên Hồng. Bằng chứng cụ thể là các tác phẩm của ông.
- **Phần 3: Ý chính là Môi trường sống lăn lộn với những người dân nghèo đã hình thành ở Nguyên Hồng “chất dân nghèo, chất lao động” thấm sâu vào cả con người và văn chương, khiến ông trở thành nhà văn của nhân dân lao động.**
- **Lí lẽ:** Cảnh ngộ đã ném ông vào môi trường những người cùng khổ nhất trong xã hội cũ; ông phải tự kiếm sống từ nhỏ, chung đụng với các hạng trẻ lao động dưới đáy xã hội.
- **Bằng chứng:** Ngoại hình (không phân biệt với dân phu, thợ cày); cung cách sinh hoạt vô cùng giản dị; câu nói của bà Nguyên Hồng (uống rượu khề khà như phu xe).
Phần này tiếp tục làm rõ thêm một yếu tố quan trọng khác định hình Nguyên Hồng, đó là cuộc sống lăn lộn, trải nghiệm thực tế với những người dân lao động. “Chất dân nghèo” không chỉ là về hoàn cảnh sống mà còn là về tư tưởng, lối sống, và thấm sâu vào ngòi bút của ông.
4. Văn bản trên cho em hiểu thêm điều gì về nội dung đoạn trích Trong lòng mẹ đã học ở Bài 3?
Văn bản “Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ” đã mang đến một lăng kính mới, sâu sắc hơn để chúng ta hiểu về đoạn trích **”Trong lòng mẹ”** (Bài 3), vốn là một phần trong hồi kí “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng:
- **Lí giải nguồn gốc của tình cảm mãnh liệt:** Đoạn trích “Trong lòng mẹ” gây xúc động mạnh mẽ bởi tình yêu thương cháy bỏng mà chú bé Hồng dành cho mẹ, và nỗi căm ghét những định kiến, hủ tục đã chia cắt tình mẹ con. Văn bản nghị luận này cho ta thấy đó không phải là tình cảm hư cấu, mà là sự phản ánh trực tiếp từ chính tuổi thơ bất hạnh, đầy thiếu thốn tình thương của Nguyên Hồng (mồ côi cha, mẹ đi bước nữa, không được gần con, phải sống nhờ bà cô cay nghiệt). Hoàn cảnh ấy đã tạo nên sự khao khát tình thương vô bờ bến và sự nhạy cảm tột cùng của ông đối với nỗi khổ của những người phụ nữ như mẹ mình.
- **Xác nhận sự chân thực của cảm xúc:** Đoạn trích về Nguyên Hồng “rất dễ xúc động, rất dễ khóc” và câu nói “mỗi dòng chữ ông viết ra là một dòng nước mắt nóng bỏng tình xót thương” càng khẳng định rằng những cảm xúc đau đớn, tủi nhục, căm giận và tình yêu thương vô bờ bến trong “Trong lòng mẹ” là hoàn toàn chân thật, được “ép thẳng ra từ trái tim vô cùng nhạy cảm” của nhà văn.
- **Làm rõ hình ảnh người mẹ:** Văn bản nghị luận cũng nhắc đến việc mẹ Nguyên Hồng “dịu hiền và có nhan sắc nhưng phải gắn bó với một người chồng già nghiện ngập bằng một cuộc hôn nhân ép uổng”, và “không được gần con” sau khi chồng mất. Chi tiết này giúp ta thấu hiểu hơn về thân phận đáng thương của người mẹ trong “Trong lòng mẹ”, qua đó càng cảm phục tình yêu của chú bé Hồng dành cho mẹ mình, đồng thời căm ghét hơn những hủ tục phong kiến đã đẩy người phụ nữ vào cảnh ngộ éo le.
- **Củng cố niềm tin vào “chất đời” trong tác phẩm:** Khi biết Nguyên Hồng đã sống một cuộc đời “chân lấm tay bùn”, lăn lộn với dân nghèo, chúng ta càng tin rằng những trang viết của ông về số phận người cùng khổ, trong đó có người mẹ trong “Trong lòng mẹ”, là những lát cắt chân thực, sống động nhất của xã hội cũ.
Tóm lại, văn bản nghị luận này không chỉ cung cấp thông tin tiểu sử mà còn là chìa khóa để mở rộng tầm hiểu biết, cảm thụ về chiều sâu cảm xúc và tính hiện thực trong tác phẩm “Trong lòng mẹ”, giúp ta thấy rõ hơn mối liên hệ giữa cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyên Hồng.
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
5. Viết một đoạn văn thế hiện cảm nghĩ của em về nhà văn Nguyên Hồng, trong đó có sử dụng một trong các thành ngữ sau: chân lấm tay bùn, khố rách áo ôm, đầu đường xó chợ, tình sâu nghĩa nặng.
Em sẽ sử dụng thành ngữ **”tình sâu nghĩa nặng”**.
Nhà văn Nguyên Hồng luôn để lại trong em một sự ngưỡng mộ đặc biệt, không chỉ bởi tài năng văn chương mà còn bởi trái tim nhân ái, ấm áp của ông. Cuộc đời ông dường như đã được tôi luyện qua những khó khăn từ thuở ấu thơ, khi phải sống trong cảnh mồ côi, thiếu thốn tình thương. Chính những trải nghiệm ấy đã bồi đắp nên ở ông một sự đồng cảm hiếm có, một **tình sâu nghĩa nặng** dành cho những số phận bé nhỏ, bất hạnh. Từng dòng chữ ông viết ra, dù là về nỗi đau của người mẹ, sự tủi hờn của đứa con, hay cuộc sống lam lũ của những người lao động, đều như thấm đẫm nước mắt và lòng xót thương chân thành. Ông không chỉ là nhà văn của những người cùng khổ mà còn là người bạn, người thân của họ, người đã dùng ngòi bút của mình để cất lên tiếng nói mạnh mẽ, đầy ám ảnh cho những mảnh đời chìm khuất. Đọc văn Nguyên Hồng, em không chỉ thấy được hiện thực nghiệt ngã của xã hội cũ mà còn cảm nhận sâu sắc được vẻ đẹp tâm hồn của những con người dù trong nghịch cảnh vẫn luôn khao khát yêu thương và sống lương thiện.
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
Chúc các em học tốt và tiếp tục khám phá thế giới văn chương đầy thú vị!



