Cùng Sĩ Tử tổng hợp kiến thức, rèn luyện kỹ năng và tự tin vượt qua kì thi cuối Học kì I môn Ngữ văn 6 Cánh diều.
Giới thiệu bài học: Ôn tập và tự đánh giá cuối Học kì I
Các em học sinh lớp 6 thân mến,
Học kì I đã sắp khép lại, và đây là thời điểm quan trọng để chúng ta cùng nhìn lại toàn bộ hành trình khám phá môn Ngữ văn 6 Cánh diều tập 1. Phần “Ôn tập và tự đánh giá cuối Học kì I” sẽ giúp các em hệ thống hóa kiến thức và rèn luyện các kỹ năng đã được học trong suốt nửa học kì qua, từ đọc hiểu các thể loại văn bản khác nhau, nắm vững kiến thức Tiếng Việt, đến thực hành các kiểu bài viết và kỹ năng nói – nghe.
Phần ôn tập sẽ giúp các em tổng hợp lại các văn bản, thể loại, kiểu văn bản đã học; ôn lại nội dung chính, đặc điểm của từng loại và các kiến thức ngữ pháp quan trọng. Đây là nền tảng vững chắc để các em chuẩn bị cho bài kiểm tra cuối kì.
Phần “Tự đánh giá” với các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận sẽ là bài “kiểm tra thử”, giúp các em tự đánh giá năng lực của mình, từ đó biết được những phần nào còn yếu để kịp thời bổ sung và củng cố. Đặc biệt, phần viết sẽ có các bài mẫu chi tiết để các em tham khảo và luyện tập.
Hãy cùng Sĩ Tử ôn tập thật hiệu quả để tự tin đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới nhé!
Để hỗ trợ các em trong quá trình học tập, Sĩ Tử cung cấp các tài liệu soạn bài và lời giải chi tiết, giúp các em nắm vững kiến thức và hoàn thành tốt các bài tập:
- Tổng hợp soạn Ngữ văn lớp 6 Cánh diều tập 1
- Tổng hợp lời giải bộ sách lớp 6 Cánh diều
- Tổng hợp tài liệu lớp 6

A. NỘI DUNG ÔN TẬP (Trang 107-108)
Câu 1. Thống kê tên các thể loại, kiểu văn bản và tên văn bản cụ thể đã học trong sách Ngữ văn 6, tập một:
Trả lời:
| Thể loại/Kiểu văn bản | Tên văn bản cụ thể đã học |
|---|---|
| Truyền thuyết |
|
| Cổ tích |
|
| Thơ lục bát |
|
| Kí (Hồi kí, Du kí) |
|
| Văn bản nghị luận |
|
| Văn bản thông tin |
|
Câu 2. Nêu nội dung chính của các văn bản đọc hiểu trong sách Ngữ văn 6, tập một theo bảng sau:
Trả lời:
| Loại văn bản | Tên văn bản | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Văn bản văn học (Truyền thuyết) | Thánh Gióng | Ca ngợi chiến công và công lao của người anh hùng làng Gióng; thể hiện ý chí, khát vọng chống ngoại xâm của dân tộc ta; giải thích một số hiện tượng tự nhiên, dấu tích lịch sử liên quan đến truyền thuyết. |
| Sự tích Hồ Gươm | Lí giải nguồn gốc, ý nghĩa của tên gọi Hồ Gươm; ca ngợi công cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi; thể hiện khát vọng hòa bình, tình đoàn kết, thống nhất của dân tộc. | |
| Văn bản văn học (Cổ tích) | Cây khế | Đề cao sự lao động, lòng nhân hậu, hiền lành của người em; phê phán thói tham lam, ích kỉ của người anh; thể hiện quan niệm của nhân dân về công lí xã hội và cái thiện luôn chiến thắng cái ác. |
| Đẽo cày giữa đường | Truyện phê phán những người không có chủ kiến, dễ dàng thay đổi ý kiến theo lời khuyên của người khác mà không có sự suy xét, dẫn đến thất bại. | |
| Văn bản văn học (Thơ lục bát) | À ơi tay mẹ | Bài thơ là lời ru của người mẹ, qua đó thể hiện tình yêu thương bao la, sự hi sinh thầm lặng của mẹ dành cho con; đồng thời thể hiện tình cảm gắn bó, trân trọng của con đối với mẹ. |
| Chuyện cổ tích về loài người | Lí giải một cách ngộ nghĩnh, đáng yêu về sự ra đời của những điều quen thuộc trong cuộc sống (mặt trời, mặt biển, tiếng chim…) gắn liền với sự ra đời của con người và vai trò của người lớn trong việc tạo nên thế giới tuổi thơ cho em bé. | |
| Những cánh buồm | Bài thơ thể hiện tình cảm cha con sâu nặng, ước mơ khám phá thế giới rộng lớn của con và sự nâng đỡ, dẫn dắt của cha. | |
| Đồng dao cho con | Thể hiện tình yêu thương, sự dạy dỗ nhẹ nhàng, gần gũi của người mẹ dành cho con qua những bài đồng dao quen thuộc. | |
| Gấu con chân vòng kiềng | Bài thơ mang thông điệp về sự tự tin, chấp nhận và yêu quý bản thân; đồng thời ca ngợi tình bạn đẹp, sự động viên, thấu hiểu từ bạn bè. | |
| Văn bản văn học (Kí) | Trong lòng mẹ | Ghi lại những cảm xúc, suy nghĩ của chú bé Hồng khi sống trong cảnh thiếu thốn tình thương, đồng thời thể hiện tình yêu thương mãnh liệt và niềm khao khát được ở bên mẹ. |
| Thời thơ ấu | Kể về những kỉ niệm sâu sắc, buồn vui trong tuổi thơ của nhân vật, thể hiện tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm với bà và khát vọng sống. | |
| Đi bộ ngao du | Bài kí kể về những trải nghiệm và cảm nhận thú vị của tác giả khi đi bộ khám phá thế giới, thể hiện niềm yêu thích tự do, sự hòa mình vào thiên nhiên và cuộc sống. | |
| Văn bản nghị luận | Thánh Gióng – tượng đài vĩnh cửu của lòng yêu nước | Văn bản làm sáng tỏ vẻ đẹp và ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng như một biểu tượng vĩnh cửu của lòng yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam. |
| Văn bản thông tin | Hồ Chí Minh và “Tuyên ngôn Độc lập” | Văn bản cung cấp thông tin về quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhấn mạnh tầm vóc lịch sử của sự kiện và công lao của Bác. |
| Diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ | Trình bày tóm tắt diễn biến chính của Chiến dịch Điện Biên Phủ qua ba đợt tiến công, làm nổi bật tầm vóc và ý nghĩa của chiến thắng lịch sử này. | |
| Giờ Trái Đất | Văn bản cung cấp thông tin về sự ra đời, quá trình phát triển và ý nghĩa của chiến dịch Giờ Trái Đất trên toàn cầu và tại Việt Nam, nhằm nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. |
Câu 3. Nêu những điểm cần chú ý về cách đọc truyện (truyền thuyết, cổ tích), thơ (lục bát) và kí (hồi kí, du kí).
Trả lời:
- Đối với truyện (truyền thuyết, cổ tích):
- Đọc để nắm được cốt truyện: các sự việc chính, trình tự diễn biến, đỉnh điểm, kết thúc.
- Chú ý các yếu tố kì ảo, hoang đường và vai trò của chúng trong việc thể hiện ý nghĩa.
- Xác định nhân vật chính, nhân vật phụ, đặc điểm tính cách và vai trò của họ.
- Phân tích ý nghĩa mà câu chuyện gửi gắm (bài học đạo lí, quan niệm về cuộc sống, lí giải hiện tượng tự nhiên…).
- Rút ra thông điệp về cuộc sống, đạo đức mà tác phẩm muốn truyền tải.
- Đối với thơ (lục bát):
- Đọc diễn cảm, chú ý nhịp điệu, vần điệu (tiếng cuối dòng lục vần với tiếng thứ sáu dòng bát; tiếng cuối dòng bát vần với tiếng cuối dòng lục tiếp theo).
- Chú ý hình ảnh, biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ…) và tác dụng của chúng.
- Cảm nhận cảm xúc chủ đạo của bài thơ (tình yêu thương, nỗi nhớ, niềm tự hào…).
- Xác định chủ đề, thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.
- Đối với kí (hồi kí, du kí):
- Đọc để nắm được nội dung sự việc, nhân vật, địa điểm, thời gian được kể lại.
- Phân biệt giữa sự thật và yếu tố hư cấu (nếu có, trong một số đoạn văn mang tính nghệ thuật).
- Chú ý cảm xúc, suy nghĩ, nhận xét của người kể chuyện (tác giả) về sự việc, con người, cảnh vật được kể.
- Xác định chủ đề, ý nghĩa của tác phẩm thông qua những trải nghiệm và chiêm nghiệm của tác giả.
Câu 4. Theo em, trong sách Ngữ văn 6, tập một có những nội dung nào gần gũi và có tác dụng với đời sống hiện nay và với chính bản thân em? Hãy nêu lên một văn bản và làm sáng tỏ điều đó.
Trả lời:
Trong sách Ngữ văn 6, tập một, rất nhiều nội dung gần gũi và có tác dụng sâu sắc với đời sống hiện nay và với chính bản thân em. Nổi bật trong số đó là chủ đề về tình cảm gia đình, tình yêu thương con người, cũng như ý thức bảo vệ môi trường và giữ gìn các giá trị lịch sử.
Em xin chọn văn bản “Giờ Trái Đất” để làm sáng tỏ điều đó.
- **Nội dung văn bản “Giờ Trái Đất”:** Văn bản này cung cấp thông tin về một chiến dịch toàn cầu nhằm nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và kêu gọi hành động tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường.
- **Tính gần gũi và tác dụng với đời sống hiện nay:**
- **Vấn đề biến đổi khí hậu:** Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại đang đối mặt hiện nay. Văn bản này giúp em và mọi người nhận thức rõ hơn về mức độ nghiêm trọng của vấn đề, từ đó thúc đẩy ý thức bảo vệ môi trường.
- **Tiết kiệm năng lượng:** Chiến dịch “Giờ Trái Đất” không chỉ là tắt đèn một giờ mà còn là lời kêu gọi hành động tiết kiệm năng lượng thường xuyên. Điều này rất thiết thực trong đời sống hàng ngày, giúp giảm gánh nặng năng lượng và bảo vệ tài nguyên.
- **Tinh thần cộng đồng:** Văn bản cho thấy chiến dịch Giờ Trái Đất đã lan rộng khắp thế giới, thu hút hàng triệu người tham gia. Điều này thể hiện sức mạnh của tinh thần đoàn kết cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề chung, làm em cảm thấy mình cũng là một phần của cộng đồng lớn đó.
- **Tác dụng với bản thân em:**
- **Nâng cao ý thức:** Văn bản đã giúp em hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc tiết kiệm điện và bảo vệ môi trường. Em nhận ra rằng những hành động nhỏ của cá nhân (như tắt điện khi không sử dụng, rút phích cắm) cũng góp phần lớn vào việc chung.
- **Thúc đẩy hành động:** Sau khi đọc văn bản, em có động lực hơn để thực hiện các hành vi thân thiện với môi trường không chỉ trong Giờ Trái Đất mà còn trong cuộc sống hàng ngày. Em sẽ tắt đèn, quạt khi rời khỏi phòng, tái sử dụng và phân loại rác thải.
- **Khuyến khích tìm hiểu:** Văn bản cũng khuyến khích em tìm hiểu thêm về các vấn đề môi trường khác và cách mà em có thể đóng góp vào việc bảo vệ hành tinh của chúng ta.
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
Câu 5. Thống kê tên các kiểu văn bản và yêu cầu luyện viết các kiểu văn bản đó trong sách Ngữ văn 6, tập một theo mẫu sau:
Trả lời:
| Kiểu văn bản | Yêu cầu luyện viết |
|---|---|
| Văn bản tự sự |
|
| Văn bản biểu cảm |
|
| Văn bản thuyết minh |
|
Câu 6. Nêu các bước tiến hành viết một văn bản, chỉ ra nhiệm vụ của mỗi bước:
Trả lời:
| Thứ tự các bước | Nhiệm vụ cụ thể |
|---|---|
| Bước 1: Chuẩn bị |
|
| Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý |
|
| Bước 3: Viết bài |
|
| Bước 4: Kiểm tra và chỉnh sửa |
|
Câu 7. Nêu tác dụng của việc tập làm thơ lục bát và tập viết bài văn kể về một kỉ niệm của bản thân.
Trả lời:
- Tác dụng của việc tập làm thơ lục bát:
- **Rèn luyện khả năng cảm thụ và sáng tạo ngôn ngữ:** Giúp em nhận biết được vẻ đẹp của vần điệu, nhịp điệu, cách gieo vần, ngắt nhịp đặc trưng của thể thơ truyền thống.
- **Phát triển tư duy hình ảnh và cảm xúc:** Tập làm thơ giúp em biết cách sử dụng các hình ảnh, từ ngữ giàu sức gợi cảm để diễn đạt suy nghĩ, cảm xúc một cách tinh tế.
- **Bồi dưỡng tình yêu văn học dân tộc:** Hiểu và trân trọng hơn thể thơ lục bát, một di sản văn hóa quý báu của dân tộc.
- **Giải tỏa cảm xúc, thư giãn:** Sáng tạo thơ ca là một cách thể hiện bản thân, giúp tinh thần thoải mái.
- Tác dụng của việc tập viết bài văn kể về một kỉ niệm của bản thân:
- **Phát triển kĩ năng tự sự:** Rèn luyện cách kể chuyện, sắp xếp các sự việc theo trình tự thời gian, sử dụng từ ngữ miêu tả và biểu cảm.
- **Khám phá và hiểu về bản thân:** Việc nhớ lại và kể về những kỉ niệm giúp em nhìn nhận lại quá khứ, hiểu rõ hơn về cảm xúc, suy nghĩ và quá trình trưởng thành của mình.
- **Luyện tập khả năng diễn đạt cảm xúc:** Bài văn tự sự về kỉ niệm thường gắn liền với cảm xúc, giúp em rèn luyện cách thể hiện cảm xúc một cách chân thực và sâu sắc.
- **Củng cố trí nhớ và óc quan sát:** Để kể lại một kỉ niệm, em cần nhớ lại các chi tiết, sự vật, con người, giúp rèn luyện khả năng ghi nhớ và quan sát cuộc sống xung quanh.
- **Gắn kết với người đọc:** Những kỉ niệm cá nhân thường dễ chạm đến cảm xúc của người khác, giúp bài viết trở nên gần gũi và có sức lay động.
Câu 8. Nêu các nội dung chính được rèn luyện trong kĩ năng nói và nghe ở sách Ngữ văn 6, tập một. Các nội dung nói và nghe liên quan gì đến nội dung đọc hiểu và viết?
Trả lời:
- Các nội dung chính được rèn luyện trong kĩ năng nói và nghe ở sách Ngữ văn 6, tập một:
- **Kể về một kỉ niệm của bản thân:** Rèn luyện khả năng kể chuyện, sắp xếp ý tưởng, dùng từ ngữ phù hợp khi nói.
- **Thảo luận nhóm về một vấn đề (trong truyện cổ tích):** Rèn luyện khả năng trình bày ý kiến, lắng nghe, phản hồi một cách lịch sự, xây dựng.
- **Kể lại một chuyến đi (dựa trên bài du kí):** Rèn luyện cách kể chuyện sinh động, sử dụng từ ngữ gợi cảm, miêu tả.
- **Thuyết minh về một sự kiện lịch sử:** Rèn luyện khả năng trình bày thông tin một cách mạch lạc, có cấu trúc, sử dụng dẫn chứng, và tương tác với người nghe thông qua hỏi đáp.
- Mối liên quan giữa nội dung nói và nghe với nội dung đọc hiểu và viết:
- **Đọc hiểu là nền tảng cho Nói và nghe, Viết:**
- Để nói và nghe hiệu quả, học sinh cần đọc hiểu văn bản (truyền thuyết, cổ tích, kí, văn bản thông tin) để nắm vững nội dung, cấu trúc, các thông tin, chi tiết quan trọng. Ví dụ, để thuyết minh về sự kiện lịch sử, phải đọc hiểu tốt văn bản thông tin lịch sử.
- Khi đọc hiểu, học sinh sẽ tiếp thu được cách hành văn, cách sử dụng từ ngữ, cách trình bày ý tưởng từ các tác phẩm mẫu, điều này rất có ích cho việc nói và viết.
- **Viết là bước chuẩn bị, cụ thể hóa cho Nói và nghe:**
- Trước khi nói, học sinh thường phải lập dàn ý, viết nháp hoặc chuẩn bị nội dung chi tiết. Quá trình viết này giúp sắp xếp ý tưởng một cách logic, chọn lọc từ ngữ chính xác, đảm bảo bài nói có cấu trúc rõ ràng.
- Ví dụ, việc viết bài văn thuật lại một sự kiện lịch sử giúp học sinh có cái nhìn tổng quan, các mốc thời gian rõ ràng để sau đó có thể trình bày bằng lời nói một cách tự tin.
- **Nói và nghe là sự thực hành, kiểm tra và hoàn thiện kĩ năng đọc hiểu, viết:**
- Khi nói, học sinh sẽ tự kiểm tra xem mình đã hiểu sâu sắc nội dung đến đâu, có diễn đạt được ý tưởng một cách rõ ràng cho người khác hiểu không.
- Khi nghe, học sinh rèn luyện khả năng tiếp nhận, xử lí thông tin, và đưa ra phản hồi, câu hỏi, góp ý, từ đó củng cố và hoàn thiện kiến thức đã đọc và viết.
- Những phản hồi từ người nghe cũng giúp người nói nhận ra điểm mạnh, điểm yếu trong cách diễn đạt của mình, từ đó điều chỉnh và cải thiện kĩ năng viết và đọc hiểu sau này.
- **Đọc hiểu là nền tảng cho Nói và nghe, Viết:**
Câu 9. Liệt kê tên các nội dung tiếng Việt được học thành mục riêng trong sách Ngữ văn 6, tập một theo bảng sau:
Trả lời:
| Bài học | Nội dung Tiếng Việt |
|---|---|
| Bài 1 | Từ đơn và từ phức (từ ghép, từ láy) |
| Bài 2 | Danh từ |
| Bài 3 | Động từ |
| Bài 4 | Tính từ |
| Bài 5 | Trạng ngữ, vị ngữ (vị ngữ là cụm từ) |
| Thực hành Tiếng Việt | Mở rộng kiến thức và luyện tập thêm về các thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ) và các loại cụm từ (cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ) trong các bài thực hành. |
—
B. TỰ ĐÁNH GIÁ CUỐI HỌC KÌ I (Trang 108-111)
1. Đọc hiểu
a) Đọc đoạn thơ sau và chọn một phương án trả lời đúng cho mỗi câu hỏi (từ câu 1 đến câu 6):
Mình về với Bác đường xuôi
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người…
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
1. Câu nào sau đây nêu không đúng đặc điểm của đoạn thơ trên?
A. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ lục bát.
B. Đoạn thơ trên có các tiếng cuối dòng lục vần với tiếng thứ sáu dòng bát.
C. Đoạn thơ trên có các tiếng cuối dòng bát trước vần với tiếng cuối dòng lục sau.
D. Đoạn thơ trên có các tiếng cuối dòng lục vần với tiếng cuối của dòng bát.
Trả lời: D. Đoạn thơ trên có các tiếng cuối dòng lục vần với tiếng cuối của dòng bát.
- Giải thích: Trong thể thơ lục bát, tiếng cuối của dòng lục vần với tiếng thứ sáu của dòng bát, và tiếng cuối của dòng bát vần với tiếng cuối của dòng lục tiếp theo. Phương án A, B, C đều đúng đặc điểm của lục bát. Phương án D là sai vì tiếng cuối dòng lục phải vần với tiếng thứ sáu dòng bát (vd: xuôi – nguôi; ngời – tươi), không phải vần với tiếng cuối dòng bát.
2. Từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần có tác dụng gì?
A. Làm nổi bật hình ảnh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc
B. Thể hiện tình cảm của Bác Hồ với người dân Việt Bắc
C. Thể hiện sự gắn bó của Bác Hồ với chiến khu Việt Bắc
D. Thể hiện tình cảm lưu luyến của người dân Việt Bắc với Bác Hồ
Trả lời: D. Thể hiện tình cảm lưu luyến của người dân Việt Bắc với Bác Hồ.
- Giải thích: Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng, không nguôi của người dân Việt Bắc dành cho Bác Hồ khi Bác về xuôi.
3. Phương án nào nêu đúng các từ đồng nghĩa trong đoạn thơ trên?
A. Mình, Bác, Ông Cụ
B. Bác, Ông Cụ, Người
C. Mình, Bác, Người
D. Mình, Ông Cụ, Người
Trả lời: B. Bác, Ông Cụ, Người.
- Giải thích: Trong ngữ cảnh đoạn thơ, “Bác”, “Ông Cụ”, “Người” đều là những cách gọi khác nhau để chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện sự kính trọng, gần gũi. “Mình” trong câu thơ đầu là cách gọi thân mật để chỉ người về xuôi (người cán bộ cách mạng, có thể là tác giả).
4. Dòng thơ nào chứa từ láy?
A. Nhớ chân Người bước lên đèo
B. Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!
C. Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
D. Người đi rừng núi trông theo bóng Người
Trả lời: C. Ung dung yên ngựa trên đường suối reo.
- Giải thích: “Ung dung” là từ láy (láy đôi).
5. Phương án nào nêu đúng ý nghĩa mà đoạn thơ trên muốn làm nổi bật?
A. Tình cảm của Bác Hồ đối với người dân Việt Bắc
B. Nỗi nhớ da diết của người dân Việt Bắc đối với Bác Hồ
C. Niềm tự hào của người dân Việt Bắc về Bác Hồ
D. Niềm tin của người dân Việt Bắc đối với Bác Hồ
Trả lời: B. Nỗi nhớ da diết của người dân Việt Bắc đối với Bác Hồ.
- Giải thích: Toàn bộ đoạn thơ xoay quanh điệp từ “nhớ” và các hình ảnh gợi về Bác Hồ, thể hiện nỗi nhớ khắc khoải, sâu sắc của người dân Việt Bắc.
6. Biện pháp nghệ thuật nào thể hiện được nỗi nhớ da diết của người dân Việt Bắc đối với Bác Hồ?
A. Sử dụng các từ ngữ và hình ảnh đẹp
C. Sử dụng biện pháp điệp từ “nhớ”
B. Sử dụng nhiều tính từ và động từ
D. Sử dụng nhiều vần bằng trong các câu thơ
Trả lời: C. Sử dụng biện pháp điệp từ “nhớ”.
- Giải thích: Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại nhiều lần (nhớ Ông Cụ, nhớ Người những sáng tinh sương, nhớ chân Người…) có tác dụng nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ da diết, thường trực trong lòng người dân Việt Bắc.
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
b) Đọc đoạn trích sau và chọn một phương án trả lời đúng cho mỗi câu hỏi (từ câu 7 đến câu 9):
27-1-1973: KÍ HIỆP ĐỊNH PA-RI (PARIS) CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM
Báo Nhân Dân số ra ngày Chủ nhật 28-1-1973 đã in trên trang nhất những dòng chữ to, nét đậm, in hai màu đỏ và đen nổi bật: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi vĩ đại.
Hiệp định Pa-ri đã được kí tham khảo. […]
Trong những ngày tháng Giêng năm bảy mươi ba đó, tất cả các báo chí, các đài phát thanh và vô tuyến truyền hình ở Pa-ri cũng như ở trên thế giới đều liên tiếp đưa tin về Hội nghị Pa-ri và bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Đại lộ Kle-bơ (Kleber) đã trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của dư luận toàn thế giới.
Những ngày lịch sử nối tiếp nhau dồn dập.
Ngày 22-1-1973, các chuyên viên của Việt Nam và Hoa Kỳ so lại lần cuối cùng các văn kiện đã thoả thuận xong giữa hai bên.
Ngày 23-1-1973, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Pa-ri), Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được kí tắt giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ (Kissinger).
Ngày 27-1-1973, đúng 11 giờ (giờ Pa-ri), Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được kí tham khảo giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của các bên. Cùng ngày, bốn nghị định thư của Hiệp định cũng đã được kí kết.
Như thế là sau 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành được thắng lợi. Tập văn bản Hiệp định và các nghị định thư bằng hai thứ tiếng Việt và Anh đã được thoả thuận xong. Buổi lễ kí kết đã diễn ra trong khung cảnh trang nghiêm tại phòng họp lớn của Trung tâm Hội nghị quốc tế Kle-bơ. Ở bên ngoài, dọc Đại lộ Kle-bơ, hàng ngàn đại biểu Việt kiều và nhân dân Pháp đã nồng nhiệt vỗ tay, vẫy cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ có sao vàng ở giữa, hô khẩu hiệu chào mừng các đại biểu Việt Nam chiến thắng.
(Theo https://www.maxreading.com)
7. Phương án nào nêu đúng căn cứ để xác định đoạn trích trên là văn bản thông tin về một sự kiện lịch sử?
A. Nêu lên các diễn biến quan trọng về việc kí kết Hiệp định Pa-ri
B. Nêu lên các lí do dẫn đến việc kí kết Hiệp định Pa-ri
C. Nêu lên các căn cứ khoa học về việc kí kết Hiệp định Pa-ri
D. Nêu lên tác dụng và ý nghĩa của việc kí kết Hiệp định Pa-ri
Trả lời: A. Nêu lên các diễn biến quan trọng về việc kí kết Hiệp định Pa-ri.
- Giải thích: Văn bản này tập trung trình bày các mốc thời gian, địa điểm, nhân vật liên quan đến quá trình kí kết Hiệp định Pa-ri, từ việc so lại văn kiện, kí tắt đến kí tham khảo, và không khí xung quanh sự kiện. Đây là đặc điểm của văn bản thông tin về một sự kiện lịch sử.
8. So với nhan đề văn bản, thông tin nào sau đây là quan trọng nhất?
A. Hiệp định đã được kí tắt giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ
B. Báo Nhân Dân số ra ngày Chủ nhật 28-1-1973 đã đưa tin này
C. Buổi lễ kí kết đã diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kle-bơ
D. Hiệp định Pa-ri được kí ngày 27-1-1973, chiến tranh đã chấm dứt
Trả lời: D. Hiệp định Pa-ri được kí ngày 27-1-1973, chiến tranh đã chấm dứt.
- Giải thích: Nhan đề đã nêu rõ “KÍ HIỆP ĐỊNH PA-RI (PARIS) CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM”. Phương án D trực tiếp lặp lại và khẳng định nội dung cốt lõi nhất của nhan đề, đó là thời điểm kí kết và kết quả quan trọng nhất của Hiệp định. Các phương án khác chỉ là chi tiết bổ sung.
9. Phương án nào sau đây nêu đúng đặc điểm văn bản thông tin thể hiện trong đoạn trích trên?
A. Nhiều trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn
B. Nhiều bằng chứng quan trọng được nêu lên
C. Nhiều lí lẽ được phân tích và làm sáng tỏ
D. Nhiều ý kiến, nhận định đánh giá về sự kiện lịch sử
Trả lời: A. Nhiều trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn.
- Giải thích: Đoạn trích sử dụng rất nhiều trạng ngữ chỉ thời gian (Ngày 22-1-1973, Ngày 23-1-1973, Ngày 27-1-1973, sau 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, Trong những ngày tháng Giêng năm bảy mươi ba đó…) và nơi chốn (ở Pa-ri, trên thế giới, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Đại lộ Kle-bơ, Ở bên ngoài, dọc Đại lộ Kle-bơ…) để thuật lại diễn biến sự kiện một cách chính xác và cụ thể.
10. Liệt kê ba thông tin theo em là quan trọng trong đoạn trích trên.
Trả lời:
Ba thông tin quan trọng trong đoạn trích trên là:
- Ngày 27-1-1973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí tham khảo. (Đây là mốc thời gian và sự kiện trọng tâm của đoạn trích, thể hiện kết quả cuối cùng của cuộc đàm phán).
- Sau 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành được thắng lợi. (Thông tin này tóm tắt quá trình đàm phán kéo dài, gian khổ và khẳng định thắng lợi của ta trên mặt trận ngoại giao).
- Buổi lễ kí kết diễn ra trong khung cảnh trang nghiêm tại phòng họp lớn của Trung tâm Hội nghị quốc tế Kle-bơ, và hàng ngàn đại biểu Việt kiều và nhân dân Pháp đã nồng nhiệt chào mừng. (Chi tiết này cho thấy tầm vóc quốc tế của sự kiện và sự ủng hộ của dư luận thế giới đối với thắng lợi của Việt Nam).
—
II. VIẾT (Trang 111)
Chọn một trong hai đề sau để viết thành bài văn ngắn (khoảng 2 trang).
Đề 1. Hình ảnh người mẹ hoặc người bố trong một bài thơ đã đọc khiến em xúc động nhất.
Đề 2. Em có thích đọc truyện cổ tích không? Vì sao? Hãy trình bày ý kiến của mình.
Phần này sẽ được trình bày với 2 bài mẫu cho mỗi đề ở các phản hồi tiếp theo để đảm bảo độ dài và chất lượng nội dung.
Đề 1: Hình ảnh người mẹ hoặc người bố trong một bài thơ đã đọc khiến em xúc động nhất.
Để viết về hình ảnh người mẹ hoặc người bố, em có thể chọn một trong các bài thơ đã học như “À ơi tay mẹ”, “Những cánh buồm”, hoặc các bài thơ khác mà em yêu thích. Dưới đây là hai bài mẫu, một bài tập trung vào hình ảnh người mẹ (từ bài “À ơi tay mẹ”) và một bài tập trung vào hình ảnh người bố (từ bài “Những cánh buồm”), với phong cách thể hiện cảm xúc và phân tích khác nhau.
Bài mẫu 1.1: Nỗi lòng mẹ trong lời ru (Phân tích sâu sắc cảm xúc)
Trong vô vàn những bài thơ hay viết về mẹ, bài thơ “À ơi tay mẹ” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã chạm đến trái tim em một cách sâu sắc bởi hình ảnh người mẹ tảo tần, chắt chiu từng giọt yêu thương gửi gắm trong lời ru. Bài thơ không chỉ vẽ nên một bức tranh bình dị về tình mẫu tử mà còn làm em xúc động đến nghẹn ngào trước những hi sinh thầm lặng, cao cả của mẹ.
Ngay từ nhan đề, “À ơi tay mẹ” đã gợi ra một không gian quen thuộc, ấm áp của lời ru và vòng tay mẹ. Tiếng “à ơi” như tiếng lòng của biết bao thế hệ người mẹ Việt Nam, giản dị mà chứa chan tình yêu. Và rồi, tình cảm ấy được gói trọn trong những dòng thơ: “Bàn tay mẹ quạt đời con / Nắng trưa đổ lửa vẫn còn quạt nan”. Hình ảnh “bàn tay mẹ quạt” không chỉ là hành động xua đi cái nóng bức mà còn là biểu tượng cho sự che chở, bao bọc, nâng niu con suốt cả cuộc đời. Dù “nắng trưa đổ lửa”, dù cuộc đời còn nhiều vất vả, khó khăn, bàn tay mẹ vẫn miệt mài, không ngơi nghỉ vì con. Đó là sự hi sinh vô điều kiện, là sự dâng hiến thầm lặng mà không đòi hỏi bất cứ điều gì.
Sự xúc động trong em dâng trào khi nhận ra rằng, mỗi lời ru không chỉ chứa đựng tình yêu mà còn là những ước mơ, mong mỏi của mẹ dành cho con. “À ơi một tiếng vạc kêu / Giữa đồng con lớn một chiều ca dao”. Lời ru không chỉ đưa con vào giấc ngủ êm đềm mà còn chắp cánh cho tâm hồn con bay bổng, nuôi dưỡng con lớn lên trong những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Tiếng vạc kêu giữa đồng gợi lên không gian rộng lớn của cuộc đời, nơi con sẽ trưởng thành, nhưng luôn có tiếng ru mẹ làm hành trang, làm điểm tựa.
Đặc biệt, câu thơ “Bàn tay mẹ thiếu một ngón / Cái chông chênh đã rụng đời con” đã khiến em lặng người. “Cái chông chênh” ở đây không chỉ là những vấp ngã, khó khăn mà con gặp phải, mà còn là cả những thiếu hụt, những nỗi đau mà mẹ đã gánh chịu thay con. Bàn tay mẹ không còn lành lặn, có thể vì những nhọc nhằn mưu sinh, vì những vết thương của cuộc đời, nhưng chính sự “thiếu một ngón” ấy lại càng làm tăng thêm sự vĩ đại của tình mẹ. Mẹ đã chấp nhận sự “chông chênh” của riêng mình để cuộc đời con được bằng phẳng, được an lành. Hình ảnh ấy cứ ám ảnh em mãi, nhắc nhở em về sự hi sinh vô bờ bến của mẹ.
Bài thơ “À ơi tay mẹ” đã không chỉ giúp em cảm nhận rõ hơn về tình yêu thương vô bờ của mẹ mà còn thức tỉnh trong em lòng biết ơn sâu sắc. Mỗi khi nghe tiếng ru, hay đơn giản chỉ là nhìn thấy bàn tay mẹ, em lại nhớ về những câu thơ này, về những tảo tần, vất vả mà mẹ đã gánh chịu. Hình ảnh người mẹ trong bài thơ đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ, khiến em luôn muốn trân trọng và yêu thương mẹ nhiều hơn mỗi ngày.
Bài mẫu 1.2: Vị cha già và ước mơ bay cao (Kể và cảm nhận từ góc nhìn riêng)
Trong chương trình Ngữ văn lớp 6, em đã được đọc bài thơ “Những cánh buồm” của Hoàng Trung Thông, và hình ảnh người cha trong bài thơ đã để lại trong em nhiều xúc động, bởi đó không chỉ là một người cha dẫn dắt mà còn là người thắp lên những ước mơ, khát vọng bay cao cho con.
Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh tươi đẹp của biển cả, nơi người cha và người con đang sánh bước. Em ấn tượng với câu thơ “Cha dắt con đi trên cát mịn / Ánh nắng chảy đầy vai”. Hình ảnh người cha cao lớn, vững chãi dắt tay con trên bãi cát vừa gần gũi, thân thương vừa gợi lên sự che chở, bảo bọc. Đó là khoảnh khắc bình yên mà bất cứ đứa trẻ nào cũng mong muốn có được bên người cha của mình. Ánh nắng “chảy đầy vai” không chỉ làm khung cảnh thêm rực rỡ mà còn như đang ban tặng sự sống, sự ấm áp cho hai cha con, đặc biệt là cho người cha, người trụ cột.
Điều làm em xúc động nhất là cách người cha đã lắng nghe và khơi gợi những ước mơ của con. Khi người con hỏi về những cánh buồm trên biển, người cha đã không trả lời qua loa mà kiên nhẫn giải thích, và hơn thế, ông còn khơi dậy trong con khát vọng khám phá: “Cha mỉm cười: – Sao xa thế con! / Biển vẫn còn xa, và những cánh buồm / Sẽ đưa con đi đến những miền đất lạ”. Lời nói của cha không chỉ đơn thuần là giải thích về địa lí, mà còn là một lời động viên, một lời hứa hẹn về tương lai, về những chân trời rộng lớn mà con có thể vươn tới. Từ “mỉm cười” cho thấy sự thấu hiểu, kiên nhẫn và niềm vui của người cha khi thấy con mình có những tò mò, những khát khao.
Hình ảnh người cha càng trở nên vĩ đại khi em nhận ra rằng, chính ông cũng từng có những ước mơ và khát vọng như con. “Cha lại nhớ năm xưa trên bãi biển / Cha cũng hỏi: – Cha ơi, đâu là biển cả? / … / Lòng cha rộng lớn hơn đời con”. Người cha đã từng là một cậu bé như con, cũng từng ước mơ. Và bây giờ, khi đã trưởng thành, trải nghiệm, ông dùng chính kinh nghiệm của mình để làm bệ phóng cho con. Câu thơ “Lòng cha rộng lớn hơn đời con” không chỉ nói về sự bao la của tình cha mà còn ám chỉ sự từng trải, kinh nghiệm sống của cha, để cha có thể dẫn dắt, định hướng cho con, làm cho những ước mơ của con được bay cao hơn, xa hơn những gì cha đã đạt được. Em xúc động khi nghĩ đến việc cha mẹ luôn mong muốn con cái mình tốt đẹp hơn, thành công hơn chính họ.
Tóm lại, hình ảnh người cha trong “Những cánh buồm” là một người cha tuyệt vời – người đồng hành, người thầy, và là người truyền lửa cho những ước mơ của con. Bài thơ đã giúp em cảm nhận được tình yêu thương thầm lặng nhưng vĩ đại của người cha, nhắc nhở em phải luôn trân trọng và cố gắng thực hiện những ước mơ mà cha mẹ đã thắp lên cho mình.
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
Đề 2: Em có thích đọc truyện cổ tích không? Vì sao? Hãy trình bày ý kiến của mình.
Với đề tài này, em có thể bày tỏ ý kiến đồng tình, không đồng tình hoặc vừa thích vừa không thích, nhưng quan trọng là phải có lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục. Dưới đây là hai bài mẫu thể hiện sự yêu thích truyện cổ tích, nhưng với hai cách tiếp cận và lập luận hơi khác nhau.
Bài mẫu 2.1: Cánh cửa thần kì đến thế giới mộng mơ và bài học (Tập trung vào giá trị tinh thần và đạo đức)
Nếu có ai đó hỏi em rằng: “Em có thích đọc truyện cổ tích không?”, em sẽ không ngần ngại mà trả lời rằng: “Em rất thích, thậm chí là vô cùng yêu thích truyện cổ tích!”. Bởi lẽ, đối với em, thế giới cổ tích không chỉ là nơi ẩn chứa những phép màu kì diệu mà còn là kho tàng vô giá của những bài học cuộc sống, nuôi dưỡng tâm hồn em từ thuở ấu thơ.
Đầu tiên, truyện cổ tích mở ra một thế giới đầy màu sắc và mộng mơ, nơi trí tưởng tượng được bay bổng. Em thích cảm giác được lạc vào những cung điện nguy nga, những khu rừng thần tiên với các loài vật biết nói, hay những cuộc phiêu lưu kì thú của các chàng dũng sĩ. Chú chim phượng hoàng lộng lẫy, ông Bụt hiền lành, bà Tiên nhân hậu, hay những phép thuật nhiệm màu… tất cả đều khiến em say mê. Khi đọc cổ tích, em như được rời xa thực tại, chìm đắm vào một thế giới mà ở đó, mọi điều đều có thể xảy ra, khơi gợi sự tò mò và óc sáng tạo trong em. Hình ảnh cô Tấm bước ra từ quả thị, Lọ Lem hóa thành nàng công chúa trong chiếc áo lộng lẫy, hay Thạch Sanh dùng cây đàn thần… là những chi tiết diệu kì làm em nhớ mãi, khiến em tin vào những điều tốt đẹp.
Tuy nhiên, sự yêu thích của em đối với truyện cổ tích không chỉ dừng lại ở yếu tố kì ảo. Điều khiến em gắn bó sâu sắc với chúng chính là những bài học đạo đức ý nghĩa, giản dị nhưng thấm thía mà mỗi câu chuyện mang lại. Truyện cổ tích luôn đề cao cái thiện, cái đẹp và phê phán cái ác, cái xấu. Chẳng hạn, từ câu chuyện “Cây khế”, em học được rằng sự tham lam, ích kỉ của người anh sẽ phải trả giá đắt, trong khi lòng nhân hậu, hiền lành của người em sẽ được đền đáp xứng đáng. Hay qua “Sự tích Hồ Gươm”, em cảm nhận được tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của dân tộc, và khát vọng hòa bình. Những bài học về lòng hiếu thảo, tình yêu thương, sự dũng cảm, hay lòng biết ơn… đều được truyền tải một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu, giúp em hình thành nhân cách tốt đẹp từ nhỏ.
Hơn nữa, truyện cổ tích còn là cầu nối giữa em với thế giới của ông bà, cha mẹ. Em thường được nghe ông bà kể chuyện cổ tích, và những lúc đó, em cảm nhận được sự ấm áp của tình thân, hiểu thêm về văn hóa, phong tục của dân tộc mình. Đó là những kí ức tuổi thơ đẹp đẽ mà em sẽ luôn trân trọng.
Tóm lại, em yêu thích truyện cổ tích bởi chúng không chỉ mang đến thế giới tưởng tượng phong phú mà còn là những bài học sâu sắc về đạo đức và cuộc sống. Truyện cổ tích không bao giờ cũ, chúng sẽ mãi là những người bạn đồng hành, giúp em lớn lên từng ngày với một tâm hồn trong sáng và một trái tim biết yêu thương.
Mua trọn bộ tài liệu lớp 6
- Giải trọn bộ 1 môn: 49K
- Giải 3 môn bất kỳ: 99K
- Full bộ giải tất cả môn: 199K
- Đề kiểm tra 15 phút: 19K
- Đề 1 tiết / giữa kỳ có đáp án: 29K
- Đề cuối kỳ có đáp án chi tiết: 39K
Liên hệ/Zalo: Zalo 1234567890 để nhận file PDF hoặc bản in
Bài mẫu 2.2: Vì sao cổ tích là người bạn đồng hành của tuổi thơ? (Tập trung vào sự gần gũi và tính giáo dục)
Em rất thích đọc truyện cổ tích. Đối với em, truyện cổ tích không chỉ là những câu chuyện kể mà còn là một phần không thể thiếu của tuổi thơ, một người bạn đồng hành đưa em khám phá thế giới và học hỏi nhiều điều ý nghĩa.
Lý do đầu tiên và quan trọng nhất khiến em yêu thích truyện cổ tích là vì chúng mang đến những câu chuyện đầy ý nghĩa, chứa đựng những bài học quý giá về đạo đức và lối sống. Mặc dù có yếu tố kì ảo, nhưng mỗi câu chuyện cổ tích đều gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc. Chẳng hạn, qua truyện “Tấm Cám”, em thấy được sức mạnh của cái thiện và lòng kiên trì của người tốt cuối cùng sẽ được đền đáp. Ngược lại, những kẻ độc ác, tham lam như mẹ con Cám luôn phải nhận lấy hậu quả xứng đáng. Truyện cổ tích giúp em phân biệt được cái đúng, cái sai, biết yêu thương những người hiền lành, tốt bụng và căm ghét những thói xấu như gian xảo, độc ác. Những bài học ấy, dù được kể qua hình ảnh chim muông, cây cỏ hay con người, đều rất dễ hiểu và dễ nhớ, giúp em học cách làm người tốt.
Thứ hai, truyện cổ tích có sức hấp dẫn đặc biệt bởi trí tưởng tượng phong phú và những điều kì diệu. Ai mà không thích được đọc về những bà tiên hiện ra giúp đỡ người nghèo khổ, những ông Bụt ban phép màu, hay những con vật biết nói, biết làm việc tốt? Những chi tiết tưởng tượng này không chỉ làm cho câu chuyện thêm sinh động, lôi cuốn mà còn kích thích óc sáng tạo của em. Khi đọc, em được thỏa sức hình dung về những nhân vật, cảnh vật trong truyện, điều mà ít thể loại sách nào làm được.
Cuối cùng, truyện cổ tích còn là sợi dây gắn kết em với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Rất nhiều truyện cổ tích Việt Nam phản ánh đời sống, phong tục, tập quán và ước mơ của người Việt qua nhiều thế hệ. Khi đọc “Thánh Gióng” hay “Sự tích Hồ Gươm”, em không chỉ được nghe kể về những anh hùng mà còn hiểu thêm về lịch sử, về tinh thần yêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm của ông cha. Điều này giúp em thêm yêu và tự hào về nguồn cội của mình.
Chính vì những lý do trên, truyện cổ tích luôn là một phần không thể thiếu trong thế giới sách của em. Chúng không chỉ mang lại những giây phút giải trí tuyệt vời mà còn là những người thầy thầm lặng, dạy em những bài học quý giá để trở thành người có ích.

