50+ cách làm bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi tốt nghiệp THPT 2026

cách làm bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi

Chinh phục **50+ cách làm bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi** cho kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026! Bài viết này sẽ là cẩm nang toàn diện, giúp bạn nắm vững từ **mức độ khó của dạng bài**, **các dạng đề thường gặp**, đến **cách lập dàn ý chi tiết** và **phân tích sâu sắc các đoạn trích**, tự tin đạt điểm cao. Văn xuôi, với chiều sâu về hiện thực và tâm lí nhân vật, luôn là phần quan trọng trong đề thi nghị luận văn học.

Để củng cố kiến thức và kỹ năng làm bài thi hiệu quả, bạn có thể tham khảo thêm: 50+ Cách làm bài phân tích đánh giá tác phẩm thơ, Chiến lược và cách thức làm bài thi tốt nghiệp THPT hiệu quả, và Tất tần tật về Kỳ thi tốt nghiệp THPT.

cách làm bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi


I. Mức độ khó của bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT

Bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi, thường chiếm 5 điểm trong đề thi tốt nghiệp THPT, mang những thách thức riêng so với nghị luận thơ hay nghị luận xã hội:

  • Độ dài và sự phức tạp của đoạn trích: Đoạn trích văn xuôi thường dài hơn thơ, chứa nhiều chi tiết, sự kiện, lời thoại. Thí sinh cần có khả năng đọc nhanh, nắm bắt thông tin và xác định trọng tâm trong thời gian ngắn.
  • Yêu cầu phân tích đa chiều: Văn xuôi không chỉ có ngôn ngữ và hình ảnh mà còn có cốt truyện, nhân vật, bối cảnh, lời kể, điểm nhìn… Bạn phải phân tích được mối quan hệ giữa các yếu tố này để làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
  • Khám phá chiều sâu tâm lí nhân vật: Nhiều đoạn trích văn xuôi tập trung vào diễn biến nội tâm của nhân vật. Điều này đòi hỏi bạn phải có khả năng đồng cảm, phân tích sâu sắc các biểu hiện bên ngoài (hành động, lời nói) để lí giải thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật.
  • Liên hệ và đánh giá khái quát: Từ một đoạn trích cụ thể, bạn cần đặt nó trong bối cảnh toàn bộ tác phẩm để hiểu rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa của đoạn trích đó. Đồng thời, phải đánh giá được giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của đoạn trích cũng như của tác phẩm.
  • Nguy cơ sa vào kể lể hoặc diễn nôm: Nếu không có kĩ năng phân tích tốt, thí sinh dễ biến bài viết thành việc kể lại câu chuyện hoặc diễn giải lại đoạn văn, thay vì phân tích và bình luận sâu sắc.

Để vượt qua khó khăn:

Hãy luyện tập kĩ năng đọc hiểu nhanh và gạch chân các chi tiết then chốt (hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật, miêu tả cảnh vật). Luôn xác định trọng tâm yêu cầu của đề bài để tránh lạc đề và tập trung phân tích sâu vào các khía cạnh liên quan.


II. Các dạng văn xuôi thường gặp trong đề thi tốt nghiệp THPT

Các đoạn trích văn xuôi trong chương trình THPT chủ yếu thuộc các dạng thể loại và chủ đề sau:

  • Truyện ngắn:
    • Truyện hiện thực phê phán (trước 1945): “Chí Phèo”, “Lão Hạc” (Nam Cao), “Vợ nhặt” (Kim Lân). Tập trung phản ánh cuộc sống nghèo khổ, bi kịch của người nông dân, người lao động; giá trị nhân đạo sâu sắc.
    • Truyện hiện thực xã hội chủ nghĩa (sau 1945): “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành), “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi), “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu). Khắc họa cuộc sống, chiến đấu, xây dựng đất nước của nhân dân trong các cuộc kháng chiến và thời kỳ đổi mới.
  • Tùy bút, bút kí:
    • “Người lái đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân), “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Đặc trưng: thể hiện cái tôi chủ quan, tài hoa của tác giả, miêu tả thiên nhiên và con người với vẻ đẹp độc đáo, giàu chất thơ và chất trí tuệ.
  • Tiểu thuyết (đoạn trích):
    • “Số phận con người” (Sôlôkhôp – tác phẩm nước ngoài, có thể được dùng để so sánh, liên hệ).
    • Các đoạn trích từ các tiểu thuyết trong nước (ít phổ biến hơn truyện ngắn trong đề thi tham khảo).

Các đề bài thường yêu cầu phân tích về: **nhân vật** (số phận, tính cách, diễn biến tâm lí), **tình huống truyện**, **giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo**, **nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả cảnh vật**, **ý nghĩa của chi tiết, hình ảnh**.


III. 20+ Đề mẫu nghị luận về đoạn trích văn xuôi

Dưới đây là 20+ đề mẫu tiêu biểu, giúp bạn luyện tập và chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026. Hãy cố gắng lập dàn ý chi tiết cho mỗi đề trước khi tham khảo các bài mẫu.

  1. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân qua đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài).
  2. Phân tích số phận và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Thị trong truyện ngắn “Vợ nhặt” (Kim Lân).
  3. Phân tích hình tượng cây xà nu và ý nghĩa của nó trong đoạn trích “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành).
  4. Phân tích vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của con sông Đà qua tùy bút “Người lái đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân).
  5. Phân tích vẻ đẹp của dòng sông Hương trong đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
  6. Phân tích tình huống truyện “nhặt vợ” và ý nghĩa của nó trong “Vợ nhặt” (Kim Lân).
  7. Phân tích chất sử thi và lãng mạn trong đoạn trích “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành).
  8. Phân tích những phát hiện về cuộc đời và con người của Nguyễn Minh Châu qua đoạn trích “Chiếc thuyền ngoài xa”.
  9. Phân tích bi kịch của người đàn bà hàng chài và tấm lòng nhân đạo của tác giả trong “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu).
  10. Phân tích vẻ đẹp của tình cảm gia đình và tinh thần yêu nước qua đoạn trích “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi).
  11. Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo qua hình ảnh nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao.
  12. Phân tích quá trình “thức tỉnh” và vùng dậy đấu tranh của Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài).
  13. Phân tích vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc qua đoạn trích “Tây Tiến” (nếu đề bài mở rộng ra văn xuôi miêu tả cảnh Tây Bắc).
  14. Phân tích ý nghĩa của hình tượng người lái đò trong “Người lái đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân).
  15. Phân tích cách nhìn của Phùng về bức ảnh và cuộc đời trong “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu).
  16. Phân tích ý nghĩa của chi tiết “cái đói” trong truyện ngắn “Vợ nhặt” (Kim Lân).
  17. Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh người mẹ trong “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi).
  18. Phân tích sự thay đổi trong nhận thức của các nhân vật khi đối diện với hiện thực cuộc sống qua đoạn trích (ví dụ: “Chiếc thuyền ngoài xa”).
  19. Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của cụ Mết và mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành).
  20. Phân tích sự tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân qua đoạn trích “Người lái đò Sông Đà”.
  21. Phân tích tính cách và diễn biến tâm lí của nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) từ khi bị trói đến khi được giải thoát.
  22. Phân tích ý nghĩa của chi tiết “tiếng sáo” trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài).
  23. Phân tích nghệ thuật kể chuyện độc đáo của Nguyễn Minh Châu trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.
  24. Phân tích vẻ đẹp của tình yêu thương và sự sẻ chia trong bối cảnh loạn lạc, khốn cùng qua đoạn trích (ví dụ: “Vợ nhặt”).
  25. Phân tích hình ảnh những người chiến sĩ cách mạng trong “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành).
Luyện đề trọn gói theo tổ hợp 4 môn bạn đăng ký!
Có đáp án – giải chi tiết – chấm điểm tự động

Luyện đúng trọng tâm - Nâng cao tỉ lệ đậu đại học top

Chọn 3 MÔN bất kỳ: CHỈ 59K
Combo 4 MÔN bạn thi: 79K

Thi thử ngay tại đây
Inbox Zalo để chọn đúng combo theo khối

IV. Cách lập dàn ý chi tiết bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi

Dàn ý chi tiết là “bản đồ” giúp bạn không bị lạc hướng khi triển khai bài viết. Với văn xuôi, việc bám sát đoạn trích và các yếu tố nghệ thuật là rất quan trọng.

1. Cấu trúc chung của Dàn ý

  • Mở bài: Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và nêu vấn đề cần nghị luận.
  • Thân bài:
    • Khái quát vị trí, nội dung chính của đoạn trích.
    • Phân tích các luận điểm cụ thể về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích (nhân vật, tình huống, chi tiết, ngôn ngữ, ý nghĩa…).
    • Đánh giá chung về giá trị của đoạn trích và vị trí của nó trong tác phẩm.
  • Kết bài: Khẳng định lại giá trị của đoạn trích và nêu cảm nghĩ.

2. Dàn ý chi tiết theo phương pháp “Phân tích theo luận điểm”

Phương pháp này giúp bạn đi sâu vào từng khía cạnh nổi bật của đoạn trích, đảm bảo tính chặt chẽ và logic.

  • I. Mở bài: (Khoảng 5-7 dòng)
    • Dẫn dắt chung: Nêu vị trí của tác phẩm/tác giả/đề tài trong dòng chảy văn học (ví dụ: văn học hiện thực phê phán, văn học kháng chiến, văn học đổi mới…).
    • Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích: Nêu tên tác giả, tên tác phẩm, giới thiệu ngắn gọn về đoạn trích (vị trí, nội dung khái quát, cảm hứng chủ đạo).
    • Nêu vấn đề cần nghị luận: Khái quát nội dung chính hoặc vẻ đẹp/giá trị nổi bật mà bài viết sẽ tập trung làm rõ (trích dẫn yêu cầu của đề bài).
  • II. Thân bài: (Phần trọng tâm, khoảng 2/3 dung lượng bài viết)
    • 1. Giới thiệu khái quát về đoạn trích: (Khoảng 3-5 dòng)
      • Nêu vị trí của đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm (đầu, giữa, cuối truyện/tùy bút), hoàn cảnh sáng tác cụ thể (nếu cần).
      • Khái quát nội dung chính của đoạn trích (đoạn trích kể về điều gì, nhân vật nào xuất hiện, sự kiện gì diễn ra).
    • 2. Phân tích nội dung và nghệ thuật theo các luận điểm: (Triển khai thành nhiều đoạn văn nhỏ, mỗi đoạn là một luận điểm. Có thể phân tích theo diễn biến tình tiết, theo nhân vật, theo chủ đề…)
      • Luận điểm 1: (Ví dụ: Bối cảnh, không gian của đoạn trích; Nét nổi bật về ngoại hình, hoàn cảnh của nhân vật; Diễn biến tâm lí nhân vật ở thời điểm đầu…)
        • Nêu luận điểm rõ ràng.
        • Phân tích các chi tiết tiêu biểu trong đoạn trích (cảnh vật, lời nói, hành động, cử chỉ, suy nghĩ, độc thoại nội tâm…) để làm rõ luận điểm.
        • Phân tích các biện pháp nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh, miêu tả tâm lí, kể chuyện…) và tác dụng của chúng.
        • Nhận xét, đánh giá về ý nghĩa của phần vừa phân tích.
      • Luận điểm 2, 3,…: (Tiếp tục phân tích các khía cạnh khác theo trình tự hợp lí, đảm bảo logic. Có thể phân tích sự phát triển của nhân vật, sự chuyển biến của tình huống, ý nghĩa của các biểu tượng/chi tiết…). Tương tự như Luận điểm 1.
      • (Lưu ý: Luôn bám sát đoạn trích, trích dẫn hợp lí và phân tích sâu vào các dẫn chứng đó).
    • 3. Đánh giá chung về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích: (Khoảng 5-7 dòng)
      • Khẳng định lại những giá trị nổi bật về nội dung (tư tưởng, chủ đề, thông điệp) mà đoạn trích mang lại, ý nghĩa của đoạn trích đối với toàn bộ tác phẩm.
      • Khẳng định lại những thành công về nghệ thuật (cách xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lí, ngôn ngữ, giọng điệu, kể chuyện…) đã góp phần tạo nên giá trị của đoạn trích.
      • Đánh giá vị trí, đóng góp của tác phẩm trong sự nghiệp nhà văn và nền văn học dân tộc.
  • III. Kết bài: (Khoảng 5-7 dòng)
    • Khái quát lại giá trị, ý nghĩa của đoạn trích một lần nữa (khẳng định tầm vóc, sức sống lâu bền).
    • Nêu cảm nghĩ, liên hệ cá nhân về đoạn trích (đoạn trích đã để lại ấn tượng gì, giúp bạn nhận ra điều gì trong cuộc sống, gợi mở những suy nghĩ gì…).

Lưu ý khi phân tích văn xuôi:

Phải bám sát đoạn trích được cho trong đề bài. Tránh sa đà vào việc kể lại toàn bộ câu chuyện. Tập trung vào các chi tiết đắt giá, lời thoại, hành động, nội tâm nhân vật. Phân tích sâu các lớp nghĩa của ngôn từ. Liên hệ với bối cảnh xã hội và ý đồ nghệ thuật của tác giả.


V. 3 Bài Văn Mẫu Nghị Luận Về Đoạn Trích Văn Xuôi

Dưới đây là 3 bài văn mẫu chi tiết, được triển khai theo dàn ý đã hướng dẫn, giúp bạn hình dung rõ hơn cách viết và lập luận.

1. Bài Văn Mẫu 1: Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân qua đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài)

Văn học Việt Nam hiện đại luôn quan tâm đến số phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội cũ. Tô Hoài, bằng ngòi bút hiện thực sắc sảo và tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đã xây dựng nên hình tượng Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” – một cô gái miền núi Tây Bắc chịu nhiều bi kịch nhưng lại ẩn chứa sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Trong đó, đoạn trích miêu tả diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân là một trong những phần đặc sắc nhất, thể hiện rõ quá trình “thức tỉnh” của một tâm hồn tưởng chừng đã chai sạn, vô cảm.

Đoạn trích nằm ở phần đầu tác phẩm, sau khi Mị đã về làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, bị áp bức đến mức “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Đêm tình mùa xuân không chỉ là bối cảnh mà còn là tác nhân quan trọng, khơi dậy những khát khao sống, khát vọng hạnh phúc tưởng chừng đã ngủ quên trong Mị.

Đầu tiên, Mị xuất hiện với hình ảnh của một kiếp người vô hồn, bị tước đoạt cả thể xác lẫn tinh thần. Tô Hoài miêu tả Mị “lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước suối cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Cô không còn ý thức về thời gian, không gian, thậm chí mất đi cả cảm giác về sự sống. Cuộc sống của Mị chỉ là sự tồn tại vật vờ, bị biến thành một công cụ lao động vô tri. Tuy nhiên, chính cái Tết ở Hồng Ngài đã mang đến một luồng sinh khí mới, bắt đầu lay động tâm hồn Mị. Cảnh sắc tươi vui, nhộn nhịp của bản làng, tiếng sáo gọi bạn tình văng vẳng trong đêm là những tác nhân quan trọng. Tiếng sáo, một biểu tượng của tình yêu đôi lứa và tuổi trẻ, đã tác động mạnh mẽ đến Mị. Ban đầu, nó chỉ là “tiếng sáo lửng lơ ngoài đường”, rồi dần “rót vào tai Mị”, trở nên “thiết tha bồi hồi”, và cuối cùng “văng vẳng tiếng sáo gọi bạn tình”. Sự thay đổi từ thụ động (nghe thấy) sang chủ động (nghe rõ, thấm thía) cho thấy tiếng sáo đang len lỏi, đánh thức những kí ức và khát khao sâu thẳm trong lòng Mị.

Dưới tác động của tiếng sáo và không khí mùa xuân, tâm lí Mị có những diễn biến vô cùng phức tạp và sâu sắc. Mị uống rượu. Rượu không làm Mị say ngủ mà làm Mị “say”, “lịm mặt nhưng trong lòng thì sống về ngày trước”. Rượu đã đưa Mị trở về với quá khứ tươi đẹp, khi Mị còn trẻ, còn có tình yêu và khát vọng. Nỗi nhớ ấy trỗi dậy mạnh mẽ, Mị hồi tưởng lại quãng đời tự do, hạnh phúc: “Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi.” Câu nói ấy như một tiếng nổ lớn trong cõi lòng chai sạn của Mị, khẳng định lại ý thức về bản thân và khát vọng được sống. Ý nghĩ đi chơi đã biến thành hành động: Mị “lấy ống mỡ, xắn miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Hành động này không chỉ là thắp sáng căn buồng mà còn là thắp sáng ngọn lửa sự sống trong chính tâm hồn Mị. Khi A Sử về, Mị bị trói đứng vào cột nhà bằng “thừng sợi đay”. Thế nhưng, dù bị trói về thể xác, tâm hồn Mị vẫn bay bổng theo tiếng sáo, theo những cuộc chơi. “Mị không hề biết mình bị trói… Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi…” Đây là đỉnh điểm của sự phản kháng trong tâm hồn Mị, một sự phản kháng thầm lặng nhưng mãnh liệt, chứng tỏ khát vọng sống, khát vọng tự do đã vượt lên trên mọi sự đày đọa về thể xác.

Tô Hoài đã rất thành công trong việc miêu tả diễn biến tâm lí của Mị bằng cách kết hợp giữa miêu tả nội tâm và hành động bên ngoài. Ngôn ngữ kể chuyện linh hoạt, giọng văn đồng cảm, giàu chất thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp tiềm tàng và sức sống mãnh liệt của nhân vật. Việc sử dụng các chi tiết nghệ thuật đắt giá như “tiếng sáo”, “hơi rượu”, “ngọn đèn”, “dây trói” không chỉ có giá trị biểu tượng sâu sắc mà còn góp phần đẩy kịch tính, làm nổi bật quá trình “thức tỉnh” của Mị. Đoạn trích đã bộc lộ rõ tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác giả, ca ngợi sức sống mãnh liệt của con người, ngay cả trong hoàn cảnh tăm tối nhất, vẫn tiềm ẩn khát vọng tự do và hạnh phúc.

Đoạn trích về đêm tình mùa xuân của Mị là một trong những đoạn văn kinh điển, cho thấy tài năng bậc thầy của Tô Hoài trong việc phân tích tâm lí nhân vật. Qua đó, tác giả không chỉ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với số phận bi kịch của người phụ nữ mà còn khẳng định sức sống, khát vọng tự do cháy bỏng ẩn sâu trong họ, dù bị vùi dập đến đâu vẫn có ngày trỗi dậy mạnh mẽ.

Đọc lại đoạn trích, chúng ta càng thấm thía giá trị của tự do và hạnh phúc, đồng thời trân trọng những con người đã kiên cường vượt lên số phận, khẳng định giá trị bản thân trong mọi hoàn cảnh.

2. Bài Văn Mẫu 2: Phân tích số phận và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Thị trong truyện ngắn “Vợ nhặt” (Kim Lân)

Kim Lân, một nhà văn hiện thực xuất sắc, luôn đau đáu với số phận của người nông dân. Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, ông đã đưa người đọc trở về với nạn đói khủng khiếp năm 1945 và khắc họa chân dung Thị – một nhân vật đặc biệt, vừa là nạn nhân bi thảm của nạn đói, vừa là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc tưởng chừng như không thể có trong cảnh ngộ ấy. Số phận và vẻ đẹp tâm hồn của Thị đã góp phần làm nên giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” được Kim Lân viết lại sau Cách mạng tháng Tám, dựa trên một phần tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”. Tác phẩm tái hiện bi kịch nạn đói năm 1945 và số phận của những con người nhỏ bé, trong đó nhân vật Thị là một điểm nhấn đặc biệt, mang nhiều ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật.

Trước hết, Thị hiện lên là một nạn nhân đáng thương của nạn đói. Mở đầu truyện, Thị xuất hiện với hình hài tiều tụy, đáng sợ: “Thị rách rưới như con ma đói”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”, “hai con mắt trũng hoáy và đói”. Sự đói khát đã tước đi vẻ đẹp con người, biến Thị thành một hình hài ghê rợn, một vật vô tri, một món “hàng” rẻ rúng có thể “nhặt” về. Cái đói đã đẩy Thị đến cùng cực, khiến Thị phải vứt bỏ cả lòng tự trọng, chấp nhận theo không một người đàn ông xa lạ, chỉ với một lời mời ăn “bốn bát bánh đúc”. Hành động “theo không” này vừa là biểu hiện của sự cùng quẫn, tuyệt vọng, vừa là bản năng sinh tồn trỗi dậy mạnh mẽ. Số phận của Thị đại diện cho hàng triệu người dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945, bị cái chết đe dọa từng ngày, từng giờ.

Tuy nhiên, ẩn sâu bên trong cái vẻ “rách rưới như con ma đói” ấy là một vẻ đẹp tâm hồn tiềm tàng và sức sống mãnh liệt. Dù phải chấp nhận làm vợ nhặt để sinh tồn, Thị vẫn mang trong mình những khát vọng rất đời thường và đẹp đẽ. Ngay khi về đến nhà Tràng, Thị đã có sự thay đổi rõ rệt. Từ một người phụ nữ chao chát, trơ trẽn vì cái đói, Thị trở nên “e thẹn”, “lặng lẽ” và “hiền hậu” một cách đáng ngạc nhiên. Khi gặp mẹ Tràng, Thị “cúi mặt xuống”, “hai tay se sẽ vặn tà áo”, đó là sự bẽn lẽn, ý tứ của một người con dâu mới, khác hẳn hình ảnh Thị khi ở chợ. Sự thay đổi trong hành động và cử chỉ cho thấy Thị là một người phụ nữ có ý thức về giá trị bản thân và mong muốn được chấp nhận, được sống một cuộc đời bình thường, có gia đình. Điều này được thể hiện rõ nét hơn qua chi tiết Thị cùng bà cụ Tứ dọn dẹp nhà cửa, gánh nước. Dù đói khổ nhưng Thị vẫn “đon đả” thu dọn, làm cho căn nhà “quét tước, sân sướng láng mượt”. Hành động này không chỉ cho thấy sự đảm đang, tháo vát mà còn là khát vọng vun vén cho tổ ấm mới, vun đắp hạnh phúc nhỏ bé trong hoàn cảnh khốc liệt. Nét đẹp của Thị còn toát lên từ niềm tin vào tương lai. Khi nói về Việt Minh phá kho thóc của Nhật, đôi mắt Thị “sáng lên”, Thị kể chuyện một cách “khẽ khàng, dè dặt”, nhưng điều đó cho thấy Thị quan tâm đến thời cuộc, đến sự đổi thay của đất nước. Đó là một tín hiệu lạc quan, một tia hy vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn, thể hiện sự nhạy cảm của Thị với những biến động lớn lao của lịch sử.

Kim Lân đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật Thị bằng nghệ thuật miêu tả ngoại hình và nội tâm tinh tế, khắc họa sự chuyển biến tâm lí nhân vật qua các tình huống. Ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng giàu sức gợi đã làm nổi bật giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. Hình tượng Thị không chỉ là minh chứng cho bi kịch của nạn đói mà còn là biểu tượng cho sức sống tiềm tàng, cho khát vọng hạnh phúc không bao giờ tắt trong con người Việt Nam.

Nhân vật Thị trong “Vợ nhặt” là một hình tượng có ý nghĩa sâu sắc, vượt lên trên cái nghèo, cái đói để khẳng định vẻ đẹp nhân bản và khát vọng sống mãnh liệt của con người. Qua Thị, Kim Lân đã gửi gắm thông điệp nhân văn về tình người, về niềm tin vào cuộc sống, ngay cả trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất.

3. Bài Văn Mẫu 3: Phân tích vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của con sông Đà qua tùy bút “Người lái đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân)

Nguyễn Tuân, một bậc thầy của tùy bút, luôn khao khát khám phá vẻ đẹp của những cái “phi thường”, cái “độc đáo”. Sông Đà trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà” là một trong những sáng tạo nghệ thuật độc đáo nhất của ông, được khắc họa bằng những nét vẽ tài hoa, vừa dữ dội, hung bạo, vừa thơ mộng, trữ tình. Tác phẩm không chỉ thể hiện sự tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân mà còn cho thấy vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ của thiên nhiên Tây Bắc.

Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” được in trong tập “Sông Đà” (1960), là kết quả của chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân lên Tây Bắc sau Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của sông Đà mà còn tôn vinh vẻ đẹp của con người lao động nơi đây.

Trước hết, sông Đà hiện lên với vẻ đẹp hung bạo, dữ dội, một thứ “tính cách” khó lường, đầy thách thức. Nguyễn Tuân đã ví sông Đà như “một cố nhân” nhưng lại có “tính cách” rất “hung bạo”, “dữ dằn”. Nổi bật nhất là những ghềnh đá dựng đứng, hiểm trở: “Đá bờ sông dựng vách thành”, “Mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”. Điệp từ “xô” và từ láy “cuồn cuộn”, “gùn ghè” gợi tả sức mạnh khủng khiếp của dòng nước và gió, tạo cảm giác về một cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ giữa thiên nhiên. Đặc biệt là những cái “hút nước” “như cái giếng bê tông”, “như cái giếng xi lanh khổng lồ”, có thể “nuốt chửng” bất cứ con thuyền nào. Cảnh đá ở quãng Tà Mường Vát “mai phục” khiến người đọc rợn tóc gáy: “Mặt đá trông ngồm ngoàm”, “những hòn đá bệ vệ, oai nghiêm”. Nguyễn Tuân còn nhân hóa sông Đà như một “kẻ thù số một” của con người, một “quái vật” với “hàm răng đá” “chực nghiến nát thuyền”. Thậm chí, sông Đà còn có “tiếng thác reo” khủng khiếp “nghe như tiếng gầm của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa”. Tất cả những miêu tả này đã làm nổi bật sự dữ dằn, ghê gớm của con sông, một đối thủ đáng gờm mà con người phải tìm cách chinh phục.

Tuy nhiên, ẩn sau vẻ hung bạo ấy, sông Đà còn hiện lên với vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình, một vẻ đẹp “nhân văn” mềm mại, quyến rũ. Nguyễn Tuân ví sông Đà như “một áng tóc trữ tình”, “uốn lượn như sợi dây thừng dài trăm cây số”. Từ trên cao nhìn xuống, sông Đà mang một vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại như người con gái. Những bãi bờ ven sông thì “nương ngô non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”. Cảnh vật ấy không chỉ gợi sự tươi mới, tràn đầy sức sống mà còn mang vẻ đẹp bình dị, gần gũi. Sông Đà còn có những đoạn “chảy lững lờ”, “thanh bình”, “nước trong xanh”, “không một gợn sóng”. Đặc biệt, vẻ đẹp trữ tình của sông Đà còn được thể hiện qua cái nhìn của người nghệ sĩ: ông coi nó như một “cố nhân”, một người bạn đã từng gặp gỡ. Nguyễn Tuân còn sử dụng các giác quan để cảm nhận: “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò”. Hình ảnh này tạo nên một khung cảnh hoang sơ mà hữu tình, đầy chất thơ. Vẻ đẹp của sông Đà còn nằm ở sự trong trẻo, tinh khiết: “Nước sông Đà trong xanh đến nỗi nhìn thấu tận đáy”. Tất cả đã tạo nên một bức tranh sông nước vừa hoang sơ, vừa thơ mộng, đầy chất trữ tình, đối lập hoàn toàn với vẻ hung bạo ban đầu.

Với bút pháp tùy bút độc đáo, Nguyễn Tuân đã vận dụng tri thức đa dạng (địa lí, lịch sử, quân sự, văn hóa…), sử dụng ngôn ngữ phong phú, giàu hình ảnh, từ ngữ gợi cảm và các biện pháp tu từ độc đáo (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…). Giọng văn hào sảng, bay bổng, giàu chất tạo hình đã làm nổi bật cả hai phương diện tính cách của sông Đà. “Người lái đò Sông Đà” không chỉ là một thiên tùy bút miêu tả thiên nhiên mà còn là lời ca ngợi sự chinh phục thiên nhiên của con người, thể hiện phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân.

Sông Đà trong tùy bút của Nguyễn Tuân là một hình tượng nghệ thuật độc đáo, kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp hung bạo và trữ tình. Qua đó, tác giả không chỉ thể hiện tình yêu sâu sắc với thiên nhiên đất nước mà còn khẳng định cái nhìn mới mẻ, đa chiều về cuộc sống và con người Tây Bắc sau cách mạng. Tác phẩm mãi là một áng văn bất hủ, xứng đáng với tầm vóc của một Nguyễn Tuân “suốt đời đi tìm cái đẹp”.

Luyện đề trọn gói theo tổ hợp 4 môn bạn đăng ký!
Có đáp án – giải chi tiết – chấm điểm tự động

Luyện đúng trọng tâm - Nâng cao tỉ lệ đậu đại học top

Chọn 3 MÔN bất kỳ: CHỈ 59K
Combo 4 MÔN bạn thi: 79K

Thi thử ngay tại đây
Inbox Zalo để chọn đúng combo theo khối

 

Tư vấn